CHÀO MỪNG CÁC THẦY CÔ GIÁO ĐẾN THĂM WEBSITE CỦA TRƯỜNG TH&THCS BẮC THUỶ

Tài nguyên Thư viện

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Menu chức năng 1

    Menu chức năng 2

    Menu chức năng 3

    Menu chức năng 4

    Menu chức năng 5

    Menu chức năng 6

    Menu chức năng 7

    Menu chức năng 8

    Menu chức năng 9

    Menu chức năng 10

    Menu chức năng 11

    Menu chức năng 12

    Menu chức năng 13

    SÁCH BÁC HỒ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hứa Tiến Mạnh
    Ngày gửi: 16h:10' 26-01-2026
    Dung lượng: 7.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    KIM NHẬT

    NHÀ XUẤT BẢN NGHỆ AN

    KIM NHẬT

    BÁC HỔ
    NHŨNG CÂU CHUYỆN
    CẢM ĐỘNG
    (In lần thứ ba)

    NIIÀ XUẤT lỉẢN NGHỆ AN - 2007

    LỜI NÓI ĐẦU
    Danh nhân kim cổ trên thế giới thường để
    lại phần tinh hoa tư tưởng của họ thông qua
    những lời nói, những trước tác, những chuyện
    kể giản dị, hàm súc chứa đựng nhiều chân lý và
    có sức thuyết phục nhiều thời đại. Bác Hồ của
    chúng ta là một trong những người như vậy.
    Phần do kính yêu Bác, phần do yêu cầu
    cõng việc, nhà báo Kim Nhật (tên thật là
    Nguyễn Văn Hùng, hiện cõng tác tại Báo Nghệ
    An) đã bỏ tâm lực trong nhiều năm để tìm hiểu,
    sưu tập, nghiền ngẫm và viết nên 26 bài viết
    nhỏ trong tập sách còn khiêm tốn mang tên

    Bác HỒ, những câu chuyện cảm động.
    Trước đây, chuyện kể về Bác đã được
    nhiều Nhà xuất bản trong và ngoài nước tổ
    chức tập hợp, biên soạn, xuất bản và được bạn
    đọc hoan nghênh. Tiếp thu một số kết quả của
    người đi trước, cuốn sách nhỏ này có những
    điểm đảng chú ỷ về tư liệu, nghệ thuật kể
    chuyện, cách phân tích, tiếp cận bản chất sự

    việc, lời nói, từ đó tim ra bài học ứng xử đối với
    cuộc sống hiện nay.
    Nhiều năm gần đây, toàn Đảng, toàn quằn,
    toàn dân ta đang kiên trì học tập, sống và làm
    việc theo Tư tưởng Hồ C hí Minh. Bởi vậy, cuốn
    sách bạn có trên tay là một tài liệu tham khảo
    bổ ích, qua câu chuyện nhỏ mà đến được với
    những tư tưởng lớn. Tuy vậy, cuộc đời và tư
    tưởng của Người rất sâu rộng, nhiều giá trị cần
    phải có thời gian và trí tuệ của nhiều người mới
    khám phá, thấm nhuần hết được, nên chắc
    chắn cuốn sách chưa đáp ứng được nhiều,
    thậm chí đây đó còn có hạn chế...
    Nhà xuất bản mong bạn đọc thông cảm và
    hy vọng sẽ nhận được ý kiến góp ý, để lần tái
    bản sau, cuốn sách hoàn thiện hơn!

    NHÀ X U Ấ T BẢN N G H Ệ A N

    NGƯỜI MỞ TRANG ĐẦU CHO NỂN
    MỸ THUẬT CÁCH MẠNG Nước TA
    Chưa bao giờ, Chủ tịch H ồ C hí M inh tự
    nhận m ình là hoạ sĩ, nhưng trên m ỗi bước đường
    loạt động cách m ạng đầy chông gai, qua nhiều
    nước Á - Â u, Người đều sử dụng lão luyện ngòi
    3Út báo chí như m ộ t công cụ hỗ trợ đắc lực. Bởi
    thế, Người tự nhận m ình là m ột nhà báo.
    H ẳn nhiều bạn đọc trong chúng ta còn nhớ
    3ài báo "Hành hình kiểu Lin-xơ, m ộ t phương
    diện ít ìì^ười biết của nên văn minh M ỹ ” (đăng

    trong T ạp chí Thư tín Quốc tế, số 59, năm 1924).
    Với bài báo nổi tiếng này, nhà yêu nước - nhà
    Dáo N m iyễn Ái Q uốc đã tố cáo m ột kiểu giết
    người cực kỳ m an rợ thời kỳ c h ế độ nô lệ tại
    niróc M ỹ: Neười da đen bị trói vào cây, bị tưới
    dầu hoủ, rồi bị đốt cháy! Trước khi chết, họ còn
    :)Ị bò dần tùng chiếc răim, bị m óc mắl, bị rút

    7

    từng nhúm tóc kéo theo từng m ản g thịt da, để lộ
    cái sọ người đẫm máu... Chỉ trong vòng 30 năm ,
    từ 1889 đến 1919, tại nhiều bang của nước M ỹ
    đã có 2.600 người da đen, 708 người da trắng bị
    hành hình theo kiểu Lin-xơ! Đ ể mức tố cáo ở các
    bài báo được tăng thêm sức thuyết phục, thời
    gian làm báo, phụ trách các tờ báo trong đó có
    Báo Người cùnq k h ổ tại T hủ đô P a-n (số 1 ra
    ngày 1-4-1922 và ra khoảng 38 số thì bị đình
    bản), N guyễn Á i Quốc còn vẽ nhiều tranh b iếm
    họạ, đả kích tội ác đầy thú tính của chủ nghĩa
    thực dân và đ ế quốc. Tiêu biểu như các bức:
    Người Pháp đánh đ ập tàn nhẫn dân hản xứ, Phu
    kéo xe cho quan lại Pháp... N guyễn Ái Q uốc

    còn vẽ nhiều tranh khơi gợi n iềm tự hào dân tộc
    Việt Nam , như các bức: H a i Bà Trưng, ô n g L ý
    Thường Kiệt, ô n g Trần Hưiĩg Đ ạ o , ô n g Đ ề
    Thám, Bà Bùi Thị Xuân... Trang bìa của tập thơ
    N h ậ t ký trong tù, viết trong kh oảng thời gian từ

    tháng 8 năm 1941 đến tháng 9 n ă m 1943, Bác có
    bức vẽ tả hai nắm tay bị xích xiềng đang vung
    m ạn h lên n h ằm biểu thị quyết tâm , bản lĩnh,
    niềm tin vào chiến thắng cuối cùng! N hững năm

    8

    1941, 1942 ( t r i n t khi bị bắt giam ở Trung
    Q uốc), Bác trực iếp phụ trách và viết bài cho
    báo Viẻt N a m Độ ' lập. Kể từ số đầu tiên ra ngày
    1 tháng 8 năm 19 u đến các số cuối tháng 8 năm
    1942, trên m ặt báo, Bác hay có những vần thơ lẻ.
    Có lần, cạnh 2 câu thơ lục bát: “Làm (ỊÌỎi thì
    được m ề đ a y (tiếng Pháp, chỉ huy chương)/
    ChúiĩíỊ ta đểu p h ả i xắn tay m à làm ”, nhà báo Hồ

    Q ií M inh vẽ m ột tấm huy chương hình ngôi sao
    năm cánh, ở giữa có hai chữ V.M, để thưởng cho
    hội viên nào có thành tích...
    Có thể khẳng định tính nhạy cảm , năng
    động, quyết liệt, kịp thời, óc thẩm m ĩ với lối vẽ
    vừa trực diện dễ hiểu vừa thâm thuý sâu cay qua
    nhiều bức tranh của Bác đã trở thành những hồi
    chuông góp phần to lớn cảnh tỉnh lòng yêu nước
    thương dân, rnối căm thù không đội trời chung
    với thực dân đ ế q u ố c và truyền bá chủ nghĩa M ác
    - Lê N in cho người Việt N am giữa đêm trường
    nô lệ.
    Trên cơ sở sưu tầm, nghiên cứu các tác
    phẩm hội hoạ, điêu khắc đầu thế kỷ X X ở Việt
    Mam, nhiều học giả đêu thống nhất cho rằng:

    N guyễn Ái Quốc, ngòi bút tiên phong dù n g mỹ
    thuật làm vũ khí đấu tranh giải phóng dân tộc và
    oài người bị áp bức; chính Người đã đặt nhiíng
    viên gạch đầu tiên cho nền M ỹ thuật C ách m ạng
    nước ta phát triển sôi động và đạt nhiều thành
    tựu suốt m ột th ế kỷ vừa qua!

    10

    HỌC TTỐ^G NÓI CỦA ư ; NIN
    N gôn ngữ là thứ sản phẩm đặc biệt của mỗi
    nền văn hoá, là m ột tiêu chuẩn quan trọng để
    phân định, đánh giá sự ra đời và trưởng thành
    của m ột dân tộc gắn với vị thế, phạm vi ảnh
    nưởng của dân tộc đó. Tiếng Nga, ai cũng biết,
    'à m ột ngôn ngữ chính xác, bay bổng nhưng lại
    rất khó học, càng khó sử dụng... Ây vậy mà,
    ngay từ khi đặt chân lên đất nước Liên Xô - ngày
    30 tháng 5 năm 1923 - để có thêm phươns tiện
    nhạn thức, tư duy, và hoạt độrm cách mạng,
    N guyễn Ái Q uốc đã tranh thủ học tiếns Nga.
    Chỉ trong m ột ihời íia n ncắn, Người đã níĩhe và
    nói được m ột số tiens: thườno; dùng trong đời
    sốnỉĩ ui ao tiếp hàng ncày. Đ iểu đó, làm cho mộl
    số bạn thân của Ncười lúc bấy giờ, hết sức nsạc
    nhiên! Với tinh ihần ham học hổi đó, khoáng 5
    năm Irên đất bạn, nhà cách m ạng Nguyễn Ái
    Quốc đã nám khá thành ihạo tiếno: Nqa.

    G .s N gu y ễn K hánh Toàn sau này có cho
    biết: Thời gian Bác vào lớp N ghiên cứu sinh Ban
    Sử học củ a V iện nghiên cứu các vấn đề dân tộc
    và thuộc địa, Bác đổng thời nhận phiên dịch
    nhiều tài liệu từ tiếng N g a sang tiếng Việt. Với
    tiếng N g a học được, Bác viết rất nhiều bài báo
    giàu tính chiến đấu và quốc tế, gửi đăng các báo
    ch í ở L iên X ô hồi đó, như Sự Thật, T iêhẹ Cời,
    T ạ p ch í Đ ỏ , Thời Mới... Khi đã ở vào cương vị

    C hủ tịch nước, Bác H ồ từng sang thăm L iên X ô
    nhiều lần. Bác đi nhiều nơi, trò chuyện với nhiều
    người bằn g tiếng Nga, riêng với Trường N g oại
    ngữ m ang tên H ồ Chí M inh ở I-ếch-kút, Bác đến
    m ấy lần. Đ ây là m ột H ọc viện dạy tiếng nước
    ngoài ở L iên X ô, vinh dự được gắn tên H ồ C hí
    M inh từ cuối n ă m 1969 (Bác qua đời), là trường
    kết nghĩa với Trưòng Đại học N goại ngữ H à N ội.
    Các nhà giáo dục công tác tại trường n ày còn
    m ãi nhắc n hở và trân trọng nhiều kỷ n iệ m đẹp,
    xúc động về những buổi gặp, đón Bác n à m xưa.
    N h ờ vào uy tín của m ình, và nhờ có trình độ
    tiếng N ga nữa, Bác đã làm tăng thêm b ầu k h ô n g
    khí ấm áp, tình hữu nghị chân thành và thắm

    12

    thiết giữa hai nước V iệt N am - L iên X ô cả m ột
    thời gian dài.
    M ột n h à báo lớn của V iệt N am được đi công
    tác cùng Bác sang Liên X ô, là nhà báo T hép
    Mới, có kể lại câu chuyện sau: Đ ã có m ộ t đồng
    chí ở T hủ đô M át-xcơ-va Ihốt lên, rằng từ trước
    đến nay, những người nổi tiếng trên th ế giới đến
    Liên X ô m à nói sõi được tiếng N g a thì chỉ có 3
    người: Đ ồ n g chí T ổng Bí thư Đ ảng C ộng sản
    Pháp M ô-rít Tô-rê; nhà nghệ sĩ da đen ngưòd M ỹ
    Pôn R ốp-xơn; và C hủ tịch H ồ C hí M inh!
    N hư vậy, học và sử dụng tiếng N ga tuy khó
    nhưng người V iệt N am ta không phải không làm
    được. N goài Bác H ồ, còn có nhiều tấm gương tự
    học rồi sử dụng thành thạo tiếng N ga trong ngoại
    giao và các chuyên ngành k hoa học, văn hóa,
    văn học - nghệ thuật. Đ áng tiếc, những người
    như vậy ngày càng h iếm đi, khiến cho tình hình
    rất k hác trước. M ộ t ông bạn dạy tiếng N g a vào
    oại kỳ cựu của tôi, hôm nợ than phiền: "Từ ngày
    tiếng A nh lên ngôi, thì tiếng N ga trở nên lép vế
    dần, có lúc đến thảm hại! Đ ã có thời gian dài ở

    13

    bậc đại học và phổ thông, tiếng N g a không được
    dạy, hoặc có dạy cũng rất hình thức, đối phó” .
    Buồn lắm! Tiếng N ga không chỉ gắn liền với
    tên tuổi Lê Nin, với chủ nghĩa xã hội; tiếng N ga
    còn là hiện thân m áu thịt của tính cách N ga, với
    văn hoá và văn học N ga nữa. C húng ta từng
    “say” tiếng H án, tiếng Pháp, tiếng N ga. Bây giò'
    người ta đổ xô đi học tiếng A nh, tiếng N hạt,
    tiếng Đ ức... Trong khi đó, theo kinh nghiệm của
    nhiều người giỏi ngoại ngữ, m uốn hiểu, nắm
    chắc và sử dụng thành thạo m ột thứ tiếng, cần
    phải bỏ ra... cả m ột đời người!
    V ăn hào L .Tôn-xtôi từng nói: “N ẹô n ngữ là
    linh hồn của dân t ộ c ”. V âng, nhưng tôi nghĩ, với

    tiếng N ga thì đó đâu chỉ là “linh h ồ n ” của riêng
    người Nga?! C ộng hoà L iên bang N ga, vói diện
    tích 17.075.400km 2, dân số 146.601.176 người,
    có quan hệ ngoại giao với nước ta từ ngày 3-11950. N gôn ngữ của m ột đất nước rộng lófn, giàu
    truyền thống và tiềm lực như thế, từng m ột thòfi
    làm say đắm nhân loại tới m ức m ê hoặc như thế,
    ẽ nào ngày nay, tiếng N ga không còn đủ sức hấp
    dẫn loài người tiến bộ nữa?!

    14

    THÊM BẢN DỊCH
    «

    MỘT BÀI THƠ CHỮ HÁN CỬA BÁC
    %

    Them th ể tại Iiẹục trung,
    Tinh thcìn tại nụỊC ngoại.
    D ục thành đạ i sự nghiệp,
    Tinh thần cánh yến đại.

    Trong nguyên tác, tập thơ chữ H án N^ục
    trung nhật kv của Bác Hồ có 133 bài. Bốn câu
    thơ này không có đầu đề, tác giả chép ở ngoài
    bìa tập thơ cùng hình vẽ hai cánh tay bị xiềng.
    Bài thơ có ý nghĩa như m ột lời “đề từ” cho
    toàn bộ cuốn N hật ký. Bản dịch nghĩa: 'Thân
    th ể ở troìiịỊ ngục/ Tinh thần ở ngoài ngục/ Muốn
    thánh sự ìiẹhiệp Ìớìíỉ Tinh thần càng p h ả i lớn".

    N ăm 1960, lần đầu tiên Viện Văn học nước ta
    hoàn thành bản dịch và cho xuất bản tập N h ậ t ký
    tron ẹ tù vào đúng dịp Chủ tịch

    nổ Chí M inh

    tròn

    15

    70 tuổi. Bài thơ được nhà thơ - dịch g iả N am
    Trân dịch thành thơ như sau:
    Thân th ể ở trong lao,
    Tinh thần ở n^oài lao.
    M uốn nên sự nghiệp lớn,
    Tinh thần càng p h ả i cao.

    C ho đến nay, bản dịch thơ của N am Trân
    vẫn được n h iều th ế hệ bạn đọc trong đ ó có học
    sinh, sinh viên yêu thơ Bác biết đến, chẳng
    những thế, họ còn thuộc lòng. M ặc dù vậy, theo
    nhà H án học Trần Đắc Thọ, tác giả cô n g trình
    T h ơ ch ữ H án của H ồ Chủ tịch (N X B Đ ại học

    Q uốc gia H à nội - 2003) thì bài thơ này, Bác có
    dụng ý sử dụng vần trắc (Các chữ ngoại, nghiệp,
    đ ạ i k hi phát âm thì nặng và ngắn), q u a đó Người

    m uốn nói lên những gian nan thử th ách đ ã và sẽ
    đến với m ình, đổng thời nhấn m ạnh q u y ết tâm
    cao để vượt qua tất cả. Từ quan n iệm này, ông
    Trần Đ ắc T họ đề xuất m ột bản dịch th ơ khác:
    Thân th ể trong ngục,
    Tinh thần ở ngoài ngục.
    Sự nghiệp lớn muốn thành,
    Tinh thẩn cao tột hậc.
    16

    Bản dịch thơ này, quả thật k h ô n g “th o át”
    như bản dịch của N am Trân, nhưng có phần chắc
    là bám sát tinh thần, âm điệu của ngu y ên bản
    hơn, đặc biệt là ở vần trắc cuối các câu thơ, chứa
    đựng nhiều dụng ý của m ột N gười - T ù - V ĩ Đại.

    17

    “MỘT NHÀNH MAI”
    HAY “MỘT CẢY C H MAT?
    Trong phần thơ chữ H án của Chủ tịch Hồ
    C hí M inh, ngoài 133 bài thơ của tập N h ật kỷ
    trong tù (viết từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943),

    N gười còn có nhiều tác phẩm vào loại thật hay
    nữa, m à bài thơ chữ H án cuối cùng của Bác là bài
    “M ậu Thân xuân t ỉ ế í ” (viết ngày 14-4-1968).

    Bài thơ ''Thướníị sơn ” sau đây, Bác viết tại
    L ũng Dẻ, năm 1942;
    Phiên âm:

    THƯỚNG SƠN
    Lục nguyệt nhị thập tứ,
    Thướng đ á o thử sơìĩ lai.
    C ử đầu lĩồn ẹ nhật cận,
    Đ ố i ngạn nhất chi mai.

    L ũng Dẻ, 1942

    18

    Dịch nghĩa:
    LÊN NÚI
    Ngày hai mươi tư tháng sáu,
    Trèo lên trên núi này.
    Sgẩng đầu thấy gần m ặt trời đỏ,
    Bên kia suối, có m ộ t nhành mai.
    Lũng Dẻ là tên m ột cái hang ở sườn dãy núi
    đá Lam Sơn, thuộc xã M inh T ân, huyện N guyên
    Bình, tỉnh Cao Bằng. Tại h ang này, có đặt cơ
    q uan ấn loát Báo Việì N am Đ ộ c lập (trước k ia ở
    K huổi N ậm - Pắc Bó, nay m ới chuyển về L ũng
    D ẻ), do Bác Hổ sáng lập và trực tiếp phụ trách.
    Bài Ihơ tứ tuyệt viết ở L ũng D ẻ này, rất kiệm lòd,
    tính biểu trưng cao, thể hiện tầm nhìn và con m ắt
    thơ của m ột thi sĩ phương Đ ông. Đ iều khiến tôi
    còn có sự phân vân nằm ở câu kết: "Đối ngạn
    nhất chi m ai

    Các bản dịch trước đây, đều được

    dịch: Bên bờ suối đối diện có m ột nhành m ai.
    Bản dịch khá quen thuộc của nhà thơ T ố H ữu
    cũng hiểu vậy: “H ai mươi tư tííánq sáu! Lên
    ngọn núi này chơi! N gẩng đầu: m ặt trời đỏ! Bên
    su ối m ột nỉìcinh m ai

    Nhưiig, cũng ở câu thơ thứ

    19

    4 này, lại có m ột cách hiểu khác cần được chú ý.
    N hà H án học Trần Đ ắc T họ trong cu ố n sách T h ơ
    chữ H án của H ồ Chủ tịch (N X B Đ ại h ọ c Q uốc

    gia H à N ội - 2003) cho rằng: “N h ất chi m a i” là
    m ột cây chi m ai, chứ không phải m ộ t nhành m ai.
    T heo ông, chi m ai là m ột loại m ai nhỏ, thường
    được trồng vào chậu, hoa nở vào m ù a xuân,
    không kết trái. N gưòi ta có thói quen chcd chi
    m ai cả cây, chứ không cắt cành vì h o a chóng tàn.
    K hi nhận xét về các bản dịch cũ, ông T rần Đ ắc
    T họ viết: “T hiết nghĩ, nếu chỉ đơn giản là m ột
    nhành m ai thì nó sẽ lẫn vào cây cỏ khác. T ác giả
    ghi rõ thời điểm làm bài thơ là 24 tháng 6 - lúc
    đó m ai làm gì còn hoa nữa?” . “N hất chi m ai” ở
    đây không có nghĩa như “ nhất chi m ai" trong bài
    thơ nổi tiếng của M ãn G iác T hiền sư đời Lý;
    “N g ạ c vị xuân tàn, hoa lạc tận/ Đình tiên tạc dạ,
    nhất chi m a i ” (D ịch thơ: Chớ tưởng xuân tàn

    hoa rụng h ế t/ Đ êm qua sân trước m ộ t nhành
    m ai).
    Vậy, cụm từ “nhất chi m ai” trong câu thơ
    “Đ ố i ngạn n h ất chi m ai ” là m ột nhành m ai, hay

    là m ột cây chi m ai? M ột chi tiết tuy nh ổ nhưng

    20

    nó lại ở Irona; câu cuối m ột bài thơ tứ tuyệt, có
    thể xein là m ột điểm nhấn, tạo nên tứ thơ, nên
    cũng cần được m inh định, ở C ao Bàng, nếu có
    oài chi m ai thật, thì cách hiểu và dịch của Trần
    Đ ắc Thọ có cái lý của ông (Bên h ờ đ ố i diện có
    m ộ t cây chi m ai). N hưng cũng không loại trừ

    k h ả năng, đó chỉ đơn giản là m ột nhành m ai, như
    cách hiểu và dịch của nhà thơ T ố H ữu. T rong thơ
    ca, m ột nhành m ai có thể đại diện cho m ột cây
    m ai lắm c h ứ ? !
    Và, sẽ cảm động biết bao khi chúng ta biết
    th ê m

    đ iề u này: N g ày 2 4 -6 -1 9 4 2 , B ác H ồ

    “Thướnẹ son ” (Lên núi) thì chỉ m ột thời gian rất

    ngắn sau đó, ngày 27-8-1942, Bác lên đường từ
    sáng sớm đi Bình M ã, đến Túc V inh (huyện Đ ức
    Bảo, Q uảng Tây, Trung Quốc), liền bị bọn tuần
    cảnh bắt giữ. Sự kiện oái ăm này đã m ở đầu cho
    thời gian hơn m ột năm Người bị Q uốc dân đảng
    T rung Q uốc giam hãm , đoạ đày, để từ đó viết
    nên tập thơ bất hủ N h ậ t ký trong tù!

    21

    BÀI THƠ CUỐI MỞ ĐẦU T ự DO
    T ập thơ N h ậ t kỷ trong tù g ồ m 134 bài
    (không kể bài thứ 135 “M ớ i ra tù tậ p leo núi ” in
    cuối tập khi tác giả được tự do), viết từ ngày 298-1942 đến ngày 10-9-1943, k h o ản g thời gian
    N gười bị chính quyền Tưởng G iới T hạch bắt
    giam ở Q uảng T ây (Trung Q uốc). N h ậ t ký tron g
    tù được V iện V ăn học tổ chức dịch và N hà xuất
    bản V ăn hóa (H à N ội) cho ra m ắt rộng rãi bạn
    đọc vào năm 1960. Từ đấy tới nay, tập thơ đã
    nhiều lần tái bản; được nhiều nhà nghiên cứu,
    phê bình và bạn đọc trong, ngoài nước tìm h iểu
    m ột cách trân trọng, công phu chủ yếu nhằm giải
    đáp m ột thắc m ắc m à G iáo sư Đ ặn g Thai M ai có
    ần nêu ra: “C á i gì trong tập th ơ n à y đ ã qu yến
    rũ người đ ọc, đ ã làm cho người đ ọ c ở nước ta
    cũn^ như ở nước n ẹo à i đánh giá h ế t sức ca o ?
    Á p-đen M a-lếch Kha-lin, trên báo r//7 tức (A icập) ra ngày 10-9-1969, đã hết lời ca ngợi: “Cụ đ ã
    trở thành như m ột vị Thánh, m ột ngưìn thầy, m ộ t

    22

    tií>ưă tiêu hiểu cho cuộc kháng chiến, m ột nhà văn,
    m ột nhà tuyên truyền chính trị, m ột nhà nghiên cứu
    văn học sắc hén và m ột nhà thơ ^iàu tình cảm
    Khía cạnh nhà thơ vói tập N hật kỷ trong tù, A. Khalin viết: “Cồn v ề nhà thơ H ồ C hí Minh, thì p h ả i nói
    rằnĩỊ Cụ vào loại có m ột không hai trong c ả kìm
    vực Đ ôn ẹ N am Á, như đ ã th ể hiện trong các hài
    thơ Cụ sủng tác tl'ong thòti gian bị tù đ à y ỏ Trung
    Quốc dưới c h ếđ ộ T ư ỏ n ẹ G ió iT h ạ ch , khi Cụ bị họn
    câm quyền Trung Quốc giam giữ, gông cùm và
    xiềng xích!
    Đ ọc những bài ứiơ trong N h ậ t kỷ
    troníỊ tù, tác giả cảm thấy rõ: ''Nguồn thơ của Cụ
    không hao ^iờdứt. Và những bài thơ đ ó tự nó cũng

    đ ã hỢỊj thành một bản anh hùng ca về m ột con
    ìì^ười tin tưởìig vào sự nghiệp đấu tranh và nhữ ig
    cuộc chiến đấu của mình

    Còn G ioóc-giơ B u-đa-ren, ở lời giói thiệu
    N hật kỷ tron g tù (Pa-ri, 1971) thì đã gắn kết
    phẩm chất “người chiến sĩ” và “nhà thơ” trong
    m ỗi hình tượng thơ của N gười. Tác giả này đi
    đến m ột kết luận đáng chú ý: 'T ro n g bản thân
    con nẹười ớ /?ẹ H ồ C h í Minh, nhà cách m ạn g với
    ììĩịhệ s ĩ kiểu m ới là m ộ t ”. G. B u-đa-ren còn thấy
    rõ tư tưỏíng N hân vãn vô cùng quý giá trong toàn
    bộ tập N hật ký; “Troỉỉíỉ tất c ả cá c hài thơ, không

    23

    hài nào vắng hóng con người. C á c h ài thơ ấ y
    góp p h ầ n tạo nên tư tưởỉĩg N hân văn cho toàn
    tác p h ẩ m , và g ó p ph ần so i s á n ^ m ộ t thực t ế đang
    đe d o ạ , p h á hoại con người!

    Tập th ơ N h ậ t kỷ trong tù quả là viên ngọc
    quý trong kho tàng văn hoá - văn học V iệt N am
    và nhân loại. Bạn đọc rộng rãi đã và sẽ còn dành
    nhiều thời gian, nhiều tâm huyết và nhiều
    phương pháp tiếp cận nữa để tìm hiểu về hiện
    tượng văn học vừa sâu sắc vừa độc đáo này.
    N gày 10 th án g 9 năm 2003, chú n g ta kỷ
    niệm 60 năm Bác H ồ viết bài thơ cuối cùng, bài
    số 134 "K ết lu ận ” tập N h ậ t kỷ trong tù:
    M a y mắn gặp được chủ nhiệm họ H ầu sáng suốt,
    M à n ay ta lại là người tự do.
    N h ậ t kỷ trong tù chấm dứt từ đây,
    C ảm tạ khôn x iết côn g ơn tái tạo của ôn g H ầu!

    2 9 -8 -1 9 4 2 - 10-9-1943.
    H ết
    Bài thơ cuối tập thơ N hật ký đã m ở đ ầ u m ột
    Tự do m ới của Bác H ồ, góp phần quan trọng m ở
    ra m ộ t thời đại chưa từng có trong lịch sử C ách
    m ạng nưóc ta!

    24

    “ĐÃ SÁNG LẠI
    TRỜI THU THÁNG TÁM”
    Do thời



    giành chính quyền đã đến gần,

    ngày 8 tháng 8 năm 1945, V iệt M inh liên tỉnh
    N ghệ - T ĩnh (thành lập ngày 19-5-1945) tổ chức
    Đ ại hội đại biểu bàn k ế hoạch T ổng khởi nghĩa.
    Đ ại hội khai m ạc tại làng Châu Sơn, x ã Phúc
    M ỹ, nay là xã H ưng Châu, huyện H ưng N guyên.
    Trước tình hình thay đổi m au lẹ, Ban
    Thường vụ M ặt trận V iệt M inh N ghệ - T ĩnh đã
    thành lập ngay ú y ban khởi nghĩa và phát động
    khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh.
    Ngày 15-8-1945, phát xít N hật đầu hàng Đ ồng
    m inh không điều kiện. Chóp thời cơ thuận lợi
    đó, Uỷ ban khởi nghĩa N ghệ - T ĩnh phát lệnh;
    “C á c địa phươỉig p h ả i b ố trí ngay việc cưỚỊ?
    chính quyền, tùy hoàn cảnh của từng đ ịa
    phưonịỉ, không câu nệ làng trước h ay huyện

    25

    trước. CưỚỊ) chính quyền xong, p h ả i tuyên h ố
    lìuỷ hỏ các p h á p luật, quyền lợi kinh tế, chính trị,
    x ã hội d o P háp, N h ật và chính phủ hù nhìn lập
    ) >

    ra .

    N hận được lệnh, ngày 16-8-1945, nhân dân
    xã T hanh T huỷ, huyện N am Đ àn đã vùng dậy
    giành chính quyền; tiếp đó là các làng q u an h
    T hành ph ố V inh như Y ên D ũng, Lộc Đ a (ngày
    17-8-1945). Q uỳnh Lưu là huyện đầu tiên ở
    N sh ệ A n giành chính quyền cấp huyện thắng lợi
    vào ngày 18-8.
    Phong trào khởi nghĩa trên đà phát triển,
    được tin bọn tàn quân Pháp kéo vào vùng N a-pê
    (Lào) để từ đó nhảy vào N ghệ A n và H à T ĩnh,
    ngày 18-8-1945, ư ỷ ban khởi nghĩa N ghệ - T ĩnh
    liền ra thông tư khẩn cấp cho các địa phương:
    “L ậ p tức cướp chính quyền và t ổ chức ngay cứu
    quân đ ể sẵn sàng đối ph ó với âm miỉii khỏi p h ụ c
    thuộc đ ịa của P háp. T ổ chức ĩoà án nhân dân
    cách m ạng trừng trị họn V iệt gian và trộm cướp,
    tổng đ ộn q viền sức người, sức của cho cách
    m ạ n g ”. N hận được thông tư này, nhiều địa

    phương phải thay đổi k ế hoạch khởi n g h ĩa của
    26

    m ình. Uỷ ban khởi nghĩa huyện H ưng N guyên
    liền phát động quần chúng biểu tình kéo lên phủ
    ỵ giành chính quyền thắng lợi vào ngày 19-81945.
    Tại Thành phố Vinh (ngày 10-12-1927,
    chính quyền thực dân Pháp cho ra đời T hành phố
    Vinh - Bến Thuỷ), vì đang có quân N hật với đầy
    đủ vũ khí trang bị, để tránh đổ m áu, ngày 19-8,
    ta lổ chức lực lượng diễu hành thăm dò thái độ
    của quân N hật, nhưng quân N hật vẫn im lặng.
    Vgày 21-8-1945, ta tiến hành giành chính quyền
    tại thành phố. Đ ồng chí N guyễn Tài, đại diện
    Việt M inh vào gặp chỉ huy quân N hật. Trước khí
    Ihế áp đảo của cách m ạng, bọn N hật phải chấp
    nhận m ọi yêu cầu của ta.
    Đ úng 12 giờ trưa ngày 21-8-1945, các lực
    ượng cách m ạng kéo đến, bao vây D inh tỉnh
    trưởng N ghệ An. Tỉnh trưởng Đ ặng V ăn H ướng
    tuyên bố đầu hàng cách m ạng. Đ ồng ch í L ê V iết
    Lượng, Ihay m ặt u ỷ ban cách m ạng lâm thời
    N ghệ An tuyên b ố xoá bỏ chính quyền cũ, thiết
    lập chính quyền mới, kêu gọi quần chúng giúp

    27

    đỡ, giữ gìn trật tự an ninh trong thành phố, bảo
    vệ chính quyền cách m ạng.
    N hư vậy là với thắng lợi ở T hành phố V inh,
    cuộc K hởi nghĩa tháng T ám giành chính quyền
    trên toàn tỉnh ta đã thành công! N hân dân các
    dân tộc N ghệ A n, bao năm lầm than, dưới ách
    thống trị củ a thực dân Pháp, phát xít N hật và vua
    quan phong kiến thống trị, nay đứng dậy cùng cả
    nước giành chính quyền, độc lập, tự chủ.
    C òn nhớ, trong Thư Chủ tịch H ồ C hí M inh
    gửi đổng bào N ghệ An tỉnh nhà (H à N ội, ngày
    17-9-1945), lấy danh nghĩa là m ột N gười - Đ ồng
    C hí - G ià m à viết, san sẻ ít nhiều kinh nghiệm
    với các đồng chí của m ình, N gười phân tích và
    khẳng định: "Cuộc dân tộc cách m ạng thành
    côn g này có những ý nghĩa, đ ó là: Trong m ộ t

    thời gian ngắn, chúng ta đ ã phá tan chê độ quân
    chủ chuyên c h ế m ấ y nghìn năm nay. Chúng ta đ ã
    đánh đ ổ cá i nền thốnẹ trị của hai đ ế q u ố c chủ
    nghĩa: P h á p và Nhật. Chúng ta đ ã lập nên m ộ t
    chính th ể D â n chủ cộn ẹ hoà. Đ ó ỉà m ột thắng lợi
    xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước t a ! ”.

    T rong thư, N gưòi - Đ ồng - C hí - G ià còn độ n g

    28

    viên cán bộ và nhân dân N ghệ A n trên cơ sở
    nhận thức rõ cái tất yếu sẽ đến: "''Công việc p h á
    hoại xon^ rồi. N a y hước đầu công việc dọn d ẹp
    sắ p đặt, íỊÌữ gìn kiến thiết. À! Việc này m ới khó
    c h ứ ”. N gười viết tiếp; “K hó thì khó thật, nhưng
    chún^ ta qu yết tâm, chúng ta vừa làm vừa học,
    nhất là chúng ta c ố m à theo cho đúng chính sách
    của Chính phủ, thì nhất định chúng ta vượt qua
    hết thảy nhũìiíỊ sự khó khăn đ ó ”...

    G ần sáu thập kỷ trôi qua, những biến động
    ịch sử trên quê hương cách m ạng, cùng những
    lời chỉ bảo ân cần, m inh triết của Ngưòd vẫn còn
    Liôn tươi mới!

    29

    TẾT TRUNG THU ĐẦU TÈN
    CỦA MỘT NƯỚC ĐỘC LẬP






    N ăm 1945, m ù a Thu. Cách m ạng tháng T ám
    thành công. N ước Việt N am D ân chủ C ộng hoà
    ra đời. C hẳng những người lớn m à trẻ con cũng
    vui sướng được sống trong m ột đất nước đã bắt
    đầu có tự do và độc lập. N hớ đêm T rung T hu đầu
    tiên trong sáng, lộng lẫy và ấm áp diễn ra ở T hủ
    đô H à N ội năm đó, ông V ũ K ỳ - người thư ký
    gắn bó nhiều năm với Bác Hồ - đã kể lại khá tỉ
    m ỉ trong m ột thiên hồi ký...
    V ào buổi chiều ngày 21-9-1945, tức ngày
    15-8 (âm lịch) năm Ất D ậu, Bác H ồ bảo đồng chí
    thư ký về nhà trước, còn m ình thì ở lại Bắc Bộ
    phủ đón các cháu thiếu nhi vào vui T ết T rung
    Thu. Trước đó m ấy hôm , Bác đ ã viết m ộ t lá thư
    dài gửi các cháu nhân ngày tựu trường. L iền đó,
    Người viết Thư gửi tlìiếu nhi Việt N a m đêm

    30

    Trung Thu. Thư viết trước cả tuần lễ để kịp đến

    với
     
    Gửi ý kiến

    Video HĐ trường

    CHÚC QUÝ THẦY CÔ LUÔN VUI KHỎE -HẠNH PHÚC VÀ THÀNH ĐẠT