SÁCH BÁC HỒ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hứa Tiến Mạnh
Ngày gửi: 16h:07' 26-01-2026
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hứa Tiến Mạnh
Ngày gửi: 16h:07' 26-01-2026
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
TRẦN THANH LÂM
Phó Chủ tịch Hội đồng
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM MINH TUẤN
Thành viên
NGUYỄN HO I ANH
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC T I
TỐNG VĂN THANH
2
LỜI NH
XUẤT BẢN
C
uốn sách Bác Hồ của chúng em tập hợp những câu
chuyện kể cũng đồng thời là những kỷ niệm sâu sắc
của những chứng nhân từng được gặp gỡ, tiếp xúc với
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày Người là cậu bé
Nguyễn Sinh Cung có tuổi thơ gắn bó với làng Chùa quê mẹ
và làng Sen quê cha, là cậu thiếu niên Nguyễn Sinh Cung
(Côn) trong những ngày theo cha đến sống và học tập ở
Huế, là thầy giáo trẻ Nguyễn Tất Thành khi dạy học ở
trường Dục Thanh tỉnh Bình Thuận hay người công nhân
hòa mình vào cuộc sống lao động ở thành phố Sài Gòn và
khi Người đã trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Qua các câu chuyện kể, chân dung Chủ tịch
Hồ Chí Minh được khắc họa ở một khía cạnh vô cùng cao
đẹp. Đó là một vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại nhưng rất gần
gũi, luôn đồng cảm và chan hòa, có tình thương yêu ấm
áp, bao la dành cho nhân loại nói chung và đặc biệt là với
lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng nói riêng.
Những câu chuyện đầy xúc động trong cuốn sách giúp
các đối tượng bạn đọc là các em thiếu niên, nhi đồng thêm
yêu mến, cảm phục phẩm chất, đạo đức của Bác cũng như
thêm hiểu và trân trọng tình cảm của Bác dành cho
các thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước,
5
lớp người luôn được Người dành cho trọn vẹn tình cảm,
niềm tin và hy vọng.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2022
NH XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
Phần I*
QUÊ HƯƠNG NGHĨA NẶNG TÌNH SÂU
___________
* Nội dung phần I trích trong cuốn sách Chuyện kể từ
làng Sen, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 2021.
7
8
GIỌT NƯỚC ĐẦU NGUỒN
C
ụ Hoàng Thế Kỳ1 dẫn chúng tôi vào khu vườn
xưa mà chỉ:
- Trước có cây thị ở đây, người ta mới chặt đi.
Cụ lấy đầu gậy gạt lớp cỏ và lá cây để dò chừng.
Đầu gậy đụng phải một vật cưng cứng. Cụ hỏi:
- Nó đây rồi phải không anh? Họ nhà thị, giống
cây vườn thế mà chắc, làm gỗ ít mối mọt và lấp dưới
đất khó mục ải.
Chúng tôi cùng ngồi xuống moi hết lớp mùn để
gốc cây xưa nổi lên. Cụ già làng Chùa với tấm áo
lụa đỏ, dang hai cánh tay ôm choàng lấy gốc cây
mới phát hiện được như đang vỗ về thăm hỏi.
Đoạn, cụ đứng lên, nhằm thẳng vào ngôi nhà cụ
Hoàng Đường2.
- Nhà bố mẹ cậu Cung xưa ở cùng hướng với nhà
ông bà ngoại như thế này. Nhà ba gian, thật nhỏ
gọn, bình dị.
___________
1. Thường gọi là cụ Nam (1893-1971). Cha cụ Nam với
bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ cùng một ông cố.
2. Còn có tên là Hoàng Xuân Cát, sau gọi là cụ Tú An
(1837-1893). Một vài tài liệu khác ghi ông sinh năm 1835.
9
Cụ lấy bước chân làm chừng. Tôi theo sau và
tự nghĩ là phải giữ thật yên lặng để chiêm ngưỡng
một cuộc sống đang được hình dung lại dần dần.
Cụ gật đầu:
- Phải rồi, gian buồng nằm ở khoảng này. Cậu
Cung đã lọt lòng mẹ ở đây.
Chúng tôi cùng lùi lại mấy bước. Tôi tưởng
như mình đang được ngồi trên bộ phản gỗ cạnh
chiếc án thư, trên có mấy chồng sách và một đĩa
đèn dầu hạt.
Sát bên là chiếc khung cửi còn mắc những
đường tơ óng vàng.
Cụ Kỳ khép cổ áo. Từ cái chớm lạnh cuối thu,
lòng cụ như nhớ về một ngày mùa hạ sáng trong:
- Thế mà đã ngót tám mươi năm rồi. Ai cũng
muốn hình dung lại xem bà con xóm giềng thuở đó
đã đón buổi chào đời của cậu Cung như thế nào.
Bình nhật1, cụ Kía là trưởng chi họ này vẫn thường
kể với chúng tôi. Buổi ấy, căn nhà bé nhỏ này càng
trở nên chật chội.
Bà con thôn xóm láng giềng ai cũng vồi vội sang
thăm. Những bó chè xanh, những chẽn cau tươi,
những liền trầu quế được các bà, các chị mang lại
để cùng chia niềm vui mới. Nhiều bà trở về, chưa
nhai giập miếng trầu đã lại tất tả chạy sang. Các
bà nhớ cái không khí ở đây - nơi có mùi bồ kết, mùi
___________
1. Ngày bình thường lúc còn sống.
10
vỏ bưởi nướng thơm thơm, đằm đặm, nơi gương mặt
của mọi người rạng rỡ thêm lên. Các bà ngồi quanh
những cơi trầu tươi, những ấm nước mới mà kể
chuyện khoai lúa, lợn gà, chuyện con chơi, con học
và mọi người càng thấy thương mến nhau hơn.
Các bác đàn ông thì cởi mở ở những câu chuyện
khác. Nhiều bác mới ở ngoài đồng về, chân còn ngấn
bùn ruộng. Đối với họ, điều mừng thường giấu kín
trong lòng. Để giữ được điều mừng, họ nghĩ đến
những điều lo. Đó là sưu thuế, phu đài, tạp dịch sắp
tới và hiện tượng đói kém của những mùa qua. Ai
cũng thấy cuộc sống có nhiều mối lo mà riêng mình
không lo nổi.
Bà Hoàng Thị Loan1 thì tỏ rõ nỗi sung sướng
sau kỳ sinh nở mẹ tròn con vuông. Tuy dáng bộ
còn mệt mỏi nhưng đôi môi bà tươi đỏ và cặp mắt
thật minh mẫn. Bà chào đón mọi người và mải
nhìn người con nhỏ lim dim ngủ, lòng đầy thư thái,
tin yêu.
Căn nhà ông Nguyễn Sinh Sắc2 không đủ chỗ
ngồi. Một số người có ít chữ nghĩa, đi sang nhà ông
ngoại, ở đó người ta đang bàn chuyện làm giấy khai
sinh cho cậu bé.
___________
1. Hoàng Thị Loan (1868-1901), con gái đầu của cụ
Hoàng Đường.
2. Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929), khi vào thi Hội đổi là
Nguyễn Sinh Huy, đậu Cử nhân khoa Giáp Ngọ (1894), đậu
Phó bảng khoa Tân Sửu (1901), lấy hiệu là Trí Hiếu, Trí Đễ.
11
- Nên đề năm tháng như thế nào? - Cụ Kỳ nói
như giải thích cho riêng tôi. Năm tháng Việt Nam
hồi đó gắn liền với niên hiệu của từng ông vua. Mà
với triều Nguyễn cho đến lúc này người ta chỉ biết
có vua Hàm Nghi. Họ chỉ thừa nhận vị vua đã
đứng về phía nhân dân mà kháng chiến ấy. Có ý
kiến đề nghị thật tích cực: “Ta nên lấy niên hiệu
của ông vua không theo giặc: “Hàm Nghi lục
niên”...1 cứ thế mà khai”. Các bác trai ngồi nghe,
sự đồng tình biểu lộ trên nét mặt. Họ nghĩ đến
những ngày đầu dựng cờ Cần Vương cứu nước. Cụ
Hoàng Đường thận trọng ngồi chờ kết quả cuộc
bàn bạc chung. Một ý kiến khác bày tỏ cái ý kín
đáo hơn: “Bề ngoài người ta muốn ghi sao thì mặc.
Còn ta, ta cứ ghi vào gia phả: năm Canh Dần
tháng Tư mùng một2 thế là được”.
Ông Sắc nhận ra là phải lẽ, sao lại bắt con nhỏ
mình phải đội cái niên hiệu nặng nề của người khác
trên cột tháng năm sinh.
Ở vùng quê này, sự thay “trật tự”, phá “kỷ
cương” cứ được bàn đến một cách hồn nhiên như
vậy đó.
___________
1. Triều vua Hàm Nghi năm thứ sáu. Vua Hàm Nghi
lên ngôi năm 1884, vì phát động phong trào yêu nước chống
Pháp nên ông bị thực dân Pháp bắt và đày sang Angiêri.
2. Tức ngày 19 tháng 5 năm 1890.
12
Cụ Kỳ nhìn xa xăm, dưới cặp lông mày bạc
trắng, đôi mắt cụ ánh lên một niềm vui:
- Còn cậu Cung, lúc này người ta kể là cậu cứ
nằm yên mà ngủ. Giấc ngủ của trẻ sơ sinh thật đẹp
lạ kỳ. Nhưng cuộc sống của bà con còn lam lũ, đói
nghèo, làm thế nào để đáp ứng những đòi hỏi của
các bác đàn ông, để “mặn” thêm câu chuyện gia
đình của các bà, các chị, để xóa đi những lệ làng,
phép nước rất đỗi phiền hà. Bà mẹ trẻ cũng mang
trong mình những suy nghĩ ấy. Bà lại nhìn con.
Khuôn mặt của cậu bé mới chào đời sáng đẹp như
một vầng trăng.
Lời cụ Kía, bà con mình vẫn nhớ. Bữa đó trời
trong, nắng đẹp. Gió nồm quạt ánh nắng sung sức
của tiết lập hạ vào căn buồng cậu nằm. Ngoài vườn
ông ngoại, tiếng chim chuyền cành nghe rộn rã. Các
bà, các chị tới, ai cũng đến bên cạnh nhìn thăm, nở
những nụ cười vô cùng đôn hậu.
- Ấy, cậu Nguyễn Sinh Cung ra đời giữa một
vùng quê vất vả, khổ nghèo nhưng hiền hòa, trong
sáng như vậy đó anh.
Càng vào đoạn kết, lời kể của cụ già làng Chùa
càng say sưa, tha thiết.
Tôi lại theo cụ đi trở lại trên những nẻo đường
bờ ao nước bạc soi bóng những cành mít, những đụn
rơm của vùng quê ngoại. Tôi chẳng biết tự bao giờ,
không riêng bà con ở đây mà cả khách đến thăm,
xuống làng Chùa thì cứ bảo về quê ngoại, lên làng
13
Sen thì cứ bảo về quê nội. Những tiếng gọi rất riêng
mà cũng rất chung. Tôi nghe rõ tiếng hát của các
em thiếu nhi. Các em đang chuẩn bị cho tết Trung
thu, một Trung thu đầu tiên vắng Bác. Hòa theo
tiếng trống ếch dập dình là những tiếng hát quen
thuộc: Người “xuất hiện trong ánh sao, xuất hiện đi
cứu dân khổ đau”.
Đô Lương, Nghệ An, 1970
14
TIẾNG RU
C
hiếc thoi cần mẫn vẫn nhè nhẹ thoăn thoắt. Mỗi
lần thoi đi qua về lại, con chim gỗ trên khung
cửi lại gật gù như mừng vì có thêm một sợi tơ vừa
được kết vào tấm lụa. Khoảng vàng mịn màng trước
mắt cứ dôi dài ra để rồi được cuộn vào, cuộn vào mãi
như một niềm vui thầm kín không dứt. Bà Loan
nhìn tấm lụa như ngó vào một mặt gương, trong đó
bản thân cũng được hồng hào lên do thành quả của
đôi bàn tay mình kết dệt. Niềm vui ấy tăng lên gấp
bội khi nghe tiếng gọi, giọng non trong:
- “Bể Đại Hải đang đầy” rồi câu gì nữa hả mẹ?
Bà nhìn con mỉm cười sung sướng: “Ồ, con của
mẹ ngoan quá!”. Đôi cánh tay thạo làm đồng và
chăm dệt cửi siết chặt con vào lòng nhưng rồi bà lại
vội buông ra. Bà không muốn cầm giữ bước chân
đang tung tăng và tiếng nói lảnh lót của con mình,
một con chim non mới bắt đầu bay nhảy. Cậu bé
vẫn ngóng đợi. Hiểu ý con, bà âu yếm:
- Để mẹ bày tiếp, con nhé!
Được nhắc lại rõ ràng rành rọt, cậu bé vừa đi
vừa nhẩm, cứ nhằm hướng nhà bà ngoại mà sang.
15
Bà mẹ đếm từng bước đi của con, lòng lâng lâng:
“Có vàng, vàng chẳng hay phô. Có con, con nói trầm
trồ mẹ nghe”.
Bà trở lại với công việc và dệt vừa được vài con
suốt, cậu bé lại đã đến gần. Lần này, cậu bắt mẹ
nhắc lại với mình suốt cả khúc ca. Khi cậu thiu thiu
ngủ thì với âm thanh dịu dàng của bà, khúc ca đã
là một lời ru:
Núi Trường Sơn còn thẳm
Bể Đại Hải đang đầy
Vua nước Nam đà theo Tây
Cho dân tình thậm khổ....
Không khí trong ngôi nhà lá bỗng trở nên
nghiêm trang bởi lời ru oán hờn và sâu thẳm ấy.
- Bé Cung của dì đâu? - Bà An bước vào. Câu
hỏi thay cho lời chào. Tuy hỏi vậy, bà An đã nhìn
thấy cậu bé nằm trong võng. Bà cười.
Bà Loan ngước lên:
- A! Dì đến. Ngủ ngoan chóng dậy mà chơi với
dì, con!
- Ấy, nhè nhẹ, để yên cho cháu ngáy! - Nói đoạn,
bà An ngồi xuống bên chị và mải về chuyện hát
phường vải đêm qua.
Hai chị em bà Loan thì từ thuở tóc chấm ngang
vai, sở trường của họ đã khéo bổ sung cho nhau. Cô
chị nhanh ý khéo đặt câu hát nhưng e lệ, kín tiếng.
Cô em thì mạnh dạn trong việc cất lời ca. Khi hai
16
người ngồi chuyện trò về ví dặm thì cứ như là tằm
nhả tơ.
Vùng làng Sen, làng Chùa có câu chuyện truyền
miệng:
Một bận, các cụ Tú San và Hoe Ba từ trên làng Bố
Ân cùng xuống hát. Các cụ cố giấu tiếng. Nhưng lạ,
ngồi chưa ấm chỗ, họ đã nghe giọng cô An:
Đằng xa em đã ngóng chừng
Nhìn trăng nhớ tán, trông rừng nhớ hoa.
Các cụ nhẩm: “Tán tức Tán Su là Tú San, Hoa là
Hoa Be tức Hoe Ba. Ấy chết, bà ấy xướng danh mình
rồi!”. Thế là hai cụ nảy người lên như giẫm phải lửa.
Trong nhà, các cô ra sức đấm vào lưng nhau mà cười.
Riêng bà Loan, bà cứ quay xa kéo sợi với vẻ thẹn
thùng bởi mọi người đang nhìn bà, mến phục.
Xóm làng vẫn mừng thầm vì các con của cụ
Đường thật sáng dạ. Trong gia đình siêng làm và
ham học ấy, sự trọng tài năng, quý nhân phẩm của
cha mẹ đã trở thành đức tính chung.
Về xã Hưng Thái (Hưng Nguyên)1, chúng tôi
được gặp cụ Trần Thị Tuất, con gái bà Hoàng Thị
An. Đang mải nói về cánh đồng cao sản, người xã
viên già bỗng chuyển sang lời sâu lắng:
- Dì Loan là chị ruột mẹ tôi. Sinh thời, mẹ tôi ít
nói đến mình mà thường nhắc đến dì. Chuyện về dì
được mẹ tôi kể thành những mẩu dễ nhớ.
___________
1. Nay thuộc thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên,
tỉnh Nghệ An.
17
Chuyện kể rằng, bữa ấy là buổi chiều mồng năm
Tết. Từ trên Thịnh Lạc đi về, ông ngoại tôi phải giữ
cho tấm áo kép khỏi bị gió thổi bạt đi và đã kéo
nghiêng chiếc nón gò găng xuống mà mưa phùn cứ
hắt vào mặt. Gió chiều mỗi lúc một mạnh. Đồng rất
vắng, thỉnh thoảng mới có đôi người đi tạt qua. Ai
cũng co ro dù đã mặc ấm hơn những ngày thường.
Về đến Dăm Quan, ông tôi gặp một con trâu từ
trong bụi rậm bước ra chặn ngang lối đi. Trên mình
trâu, một cậu con trai thu mình trong chiếc tơi lá,
tay cầm một cuốn sách. Thật là chuyện bất ngờ.
Ông tôi liền hỏi:
- Trời lạnh quá, sao cháu cho trâu về muộn thế?
Cậu bé chào đáp lại rồi cứ nhìn ông tôi mãi. Chắc
vì câu hỏi của ông tôi khá ân cần nên cái nhìn của cậu
cũng thật kính cẩn. Đoạn, cậu lại chăm chú nhìn vào
cuốn sách đã gần như nhàu nát.
Ông tôi bảo cậu:
- Thôi cháu, đi về kẻo tối.
- Dạ, cháu xin chào ông, - Cậu bé lễ phép đáp,
xong lại nhìn vào sách.
Khi đã bước xuống giữa cánh đồng Phú Đầm,
ông tôi vẫn ngoái lại nhìn. Con trâu cứ phe phẩy
đuôi hiền lành gặm cỏ và người chủ bé nhỏ của nó
lúc này mới lấy chân thúc vào mình trâu mà ra hiệu
bảo nó đi về.
Bà cụ Tuất nhai thêm một miếng trầu rồi tiếp:
- Nghe nói cũng giờ phút ấy ở làng Sen, ông
Nguyễn Sinh Thuyết, anh của cậu bé chờ mãi không
18
được nên đã đánh đường đi tìm em. Bà Thuyết cũng
phải đậy cỗ bàn lại rồi ra đường đứng đợi.
Đã lâu năm trong nghề dạy học, ông tôi ít gặp
những học trò chăm chỉ như vậy. Nghe thuật
chuyện, bà tôi rất mến cậu bé chăn trâu nọ, trước
hết vì đó là người ham học. Bà tôi cũng là con một
nhà Nho. Cố ngoại tôi đã lận đận nhiều ở trường
thi. Bà tôi ra đời khi ông cụ đậu tú tài khóa thứ hai
nên gia đình đặt cho là cô Kép, Nguyễn Thị Kép.
Hai nhà kết nghĩa thông gia với nhau cũng vì nghĩa
văn chương, tình bè bạn.
Khi biết cậu mồ côi cả cha lẫn mẹ thì bà càng
thương. Cho đến khi ông tôi xin với ông Thuyết để đem
cậu về nuôi thì bà tôi coi cậu như con của mình.
Người con trai làng Sen ngồi trên mình trâu mà
học bài ấy chính là dượng Nguyễn Sinh Sắc của
chúng tôi.
Cũng theo các cụ làng Chùa kể lại, nhờ sự cố
công kèm cặp của cụ Đường, việc học của cậu
Nguyễn Sinh Sắc ngày càng tấn tới. Về sau, cụ gửi
cậu xuống học với nhà danh nho yêu nước Nguyễn
Thức Tự1. Trường học của cụ nổi tiếng ở Nghệ Tĩnh.
Rất nhiều nhà khoa bảng có tiếng tăm ở vùng này
___________
1. Nguyễn Thức Tự (1841-1923) hiệu Đông Khê, quê
làng Đông Chữ, xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc. Nhân
dân tôn kính gọi là cụ Sơn vì năm 1880, cụ được bổ làm Sơn
phòng Chánh sứ Hà Tĩnh.
19
vốn theo học ở đây. Thời gian được xuống học dưới
đó là dịp cậu sinh đồ Nguyễn Sinh Sắc có điều kiện
tốt nhất để phát triển trí lực. Không lâu sau, cậu
trở thành người bạn văn chương của cụ Hoàng
Đường. Có lúc cậu đã thay cụ Đường giảng dạy cho
lớp học trò ở trong nhà. Và chẳng biết tự bao giờ,
người con trai hiền hậu, giỏi giang ấy đã được cô
con gái đầu lòng của cụ để ý.
Bà cụ Tuất sửa lại vành khăn, tiếp tục câu
chuyện:
- Dì Loan tính người chất phác và đoan trang.
Mẹ tôi thường nói, việc làm của dì thì chu đáo, điều
nghĩ của dì thì đôn hậu, nhân từ. Dì biết nhiều mà
nói ít. Lúc dì đến tuổi, con trai của nhiều nhà gia
thế đến ngấp nghé đưa tin. Khi mà mục đích của
họ không đạt được thì cũng có kẻ gièm pha. Trước
những lời ong tiếng ve đó, dì tôi chỉ mỉm cười, tự
tin. Có người ngại cho cuộc sống thiếu vốn liếng của
dì sau này, dì cũng chỉ cười và nói: “Một bụng chữ
bằng nửa hũ vàng”.
Ông ngoại rất vui mừng trước cuộc tình duyên
của hai con. Bà ngoại cũng thế. Nhưng bà cũng có
phần băn khoăn sợ người ta cười là mình gả con
không được môn đăng hộ đối. Ông ngoại phải mượn
cớ về chơi Kẻ Sía1 để bàn bạc với cố tôi. Thế rồi nhân
___________
1. Quê bà ngoại Bác Hồ - bà Nguyễn Thị Kép, nay thuộc
xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
20
một buổi bà tôi về thăm nhà, cụ cố gợi chuyện bàn
giải mãi bà tôi mới thật thanh thoát.
Dì Loan biết bà tôi tạm thời có những lo nghĩ
như thế nhưng dì rất vững tâm. Dì biết những
băn khoăn đó cũng là lòng ân cần của mẹ lúc
mình sắp ra cửa nhà. Dì chỉ nói với bà tôi: “Có
lưng có vai thì có khoai có lúa”. Điều dì tìm thấy
và tin được ở dượng tôi là một tấm lòng, một ý chí.
Nghĩ như thế, dì tôi đã cùng người bạn đời bước
vào cuộc sống chung mà dì biết trước là sẽ không
ít gian khổ.
Thế là một gia đình mới được hình thành.
Sát cạnh cây thị mà cụ Hoàng Thế Kỳ đã chỉ,
một ngôi nhà nhỏ được dựng lên bằng gỗ tre lấy từ
trong vườn, có nứa đại ngàn làm vách, có mía bãi
sông làm mái, đủ che nắng mùa hạ, chắn gió mùa
đông. Cuộc sống đơn sơ đã không hạn những trang
sách mở và vẫn rộng đường thoi đưa. “Sáng trăng
trải chiếu hai hàng. Bên anh đọc sách, bên nàng
quay tơ”, cảnh ấy vẫn thường diễn ra sau những
buổi đồng áng nắng mưa.
Rời nhà riêng của mình mấy bước chân là đến
nhà ông ngoại. Một ấm chè xanh vừa chín, có cả
xóm giềng cùng uống. Một buồng cau đến thì dẻo
hạt, riêng nhà mình ăn không ngon. Buổi đầu hôm
sớm mai, khi tắt đèn tối lửa, xóm thôn cùng đùm
bọc, chở che.
Trong ngôi nhà bình dị ấy, năm 1884, vợ chồng
ông Sắc sinh chị Nguyễn Thị Thanh, một cô gái từ
21
bé đã nhanh nhẹn tháo vát; bốn năm sau sinh anh
Nguyễn Tất Đạt, người con trai có khối óc thông
minh hiếm thấy; và đến năm 1890, gia đình và quê
hương đất nước đón chào một người con mới, cậu
Nguyễn Sinh Cung.
Cứ mỗi lần một người cháu ra đời lại đem đến
cho gia đình họ Hoàng một niềm vui lớn.
Cụ Đường đến thăm cháu giữa lúc hai con đang
cùng trò chuyện. Nhìn khuôn mặt cậu Cung đang
lúc ngủ ngon, cụ thấy như tất cả nguồn vui được
thể hiện ở đây. Cứ mỗi lúc ngừng giảng bài, cụ lại
nghĩ đến khuôn mặt có đôi mắt trong sáng ấy, nên
thường giữa hai giờ học, cụ lại đến bên võng, bế
cháu lên hôn vào đôi má thơm thơm, bụ bẫm. Lần
này cụ cũng chỉ ghé thăm cháu một lúc. Cụ biết
giữa hai con còn có những điều cần nói. Cụ muốn
họ được tự nhiên.
Bà Loan đón nhận sự thăm hỏi của cha. Bà lại
cúi xuống nhìn người con nhỏ. Đôi tay bà chỉ dừng
lại mỗi khi hết một con suốt. Tuy nhiên, chiếc tao
võng vẫn đung đưa đều đều.
Khi cụ Đường dời gót, hai bà lại tiếp tục câu
chuyện về đêm phường vải. Bà An nói, trong đó như
có cả lời trách móc của chính mình:
- Người ta cứ hỏi sao lâu nay không thấy chị tới?
Bà Loan vẫn khiêm nhường dù là trò chuyện
với em:
22
- Thôi, chị bận việc nhà. Vả lại, chị cũng lớn tuổi
rồi, để dành việc đó cho các em.
Thực tình, đêm phường vải mà vắng những
người như bà Loan kể cũng thiệt thòi.
Bà Loan nhận rõ hơn trách nhiệm làm mẹ. Bà
mừng, em gái bà mới ngày nào cứ đòi chị bẻ cho
những câu hát ngắn thì nay đã tự đối đáp dí dỏm
lắm rồi.
23
ĐƯỜNG VÔ XỨ HUẾ
Đ
ã chuẩn bị đầy đủ cho việc trảy Kinh, ngày mai
bà Hoàng Thị Loan sẽ cùng hai con lên đường.
Sương đêm đã phủ kín những lũy, cây ngoài
vườn. Dưới ánh trăng, làn sương mỗi lúc một dày
đặc trông như cũng nặng trĩu suy tư.
Bà Loan thao thức mãi. Cụ Kép cũng thôi không
quạt cho cậu Cung nữa. Không phải cụ đã ngủ mà vì
khí trời đã dịu hẳn. Có chú ý nghe tiếng trở mình mới
biết cụ đang bồn chồn lo nghĩ vì nỗi đường xa dặm
thẳng đối với con cháu ngày mai. Cũng vì thế mà đêm
nay cụ sang ngủ cùng các cháu.
Bà Loan cố giữ thật yên lặng mặc dầu lòng bà
đang xao động dữ dội. Chốc chốc bà lại nhìn vào
khuôn mặt người con trai nhỏ. Ánh trăng rọi qua
khe cửa và những lỗ nhỏ li ti của vách nứa đủ cho
bà nhìn rõ khuôn mặt bầu bĩnh sáng sủa của cậu
con trai đang lúc ngủ say. Bà muốn ru thêm một
câu để góp vào giấc ngủ hiền hòa đó. Nhưng bà sực
nhớ, con trai mình đã lớn và sợ lời ru có thể gây ra
thành tiếng động, ảnh hưởng đến giấc ngủ của con.
Cụ Kép cũng suy nghĩ như vậy nhưng cụ không
24
thể để yên. Hết xoa đầu, cụ lại nắn cổ tay, cẳng
chân người cháu nhỏ. Mà không thao thức sao
được. Đối với tầm mắt người phụ nữ nông thôn xứ
Nghệ lúc bấy giờ, trảy Kinh thật là một việc quá
sức tưởng tượng.
Buổi sáng mùa thu bình dị ấy, đoàn người ra đi
khi cây vườn còn đẫm hơi sương. Lớn lên nơi đồng
quê và từ đồng quê cất bước, cậu Cung lon ton đi
giữa những ruộng lúa đã trổ đòng đòng, những
nương mía đang thì xanh tốt. Những lá cây nhọn
sắc khua mình trong gió sớm xôn xao.
Đã đến đầu bờ của mảnh ruộng nhà, năm trước ở
nơi này, bà Loan nhận được tin chồng mình thi đỗ.
Bà nhớ như in quang cảnh buổi ấy và tưởng mình
được nghe lại tiếng gọi của người con trai nhỏ:
- Anh Khiêm1 ơi, có cá rồi!
Cứ thế, bà hình dung lại tất cả.
Bữa ấy cậu Cung đã tự đắp ngăn rãnh nước bên
bờ ruộng mà tát cho đến cạn. Những con bọ nẹp
nước bò rào rào, những con cào cào nhảy tanh tách,
cả con chim bồng chanh mình xanh, mỏ đỏ sặc sỡ
nhún nhẩy trên cành rào tre đầu ruộng... tất cả,
cậu chỉ nhìn qua. Cậu chú ý đến những con cá.
Những con cá li ti, những con tép mềm nhũn tưởng
chết đến nơi nhưng rồi được cậu tháo nước vào lại
sống lại ngay. Cậu chỉ giữ hai con cá rô thia để đem
___________
1. Tên thường gọi của cậu Nguyễn Tất Đạt.
25
về thả vào chiếc bể cạn trước sân nhà bà ngoại. Khi
hai con cá đã được trở lại bơi trong chiếc gáo dừa
thì có tiếng gọi từ đầu bờ:
- Quan đậu rồi, sao bà Cử chưa về?
Thế là ông Sắc đã đậu Cử nhân. Đối với ông,
khoa thi này là khoa thi báo hiếu.
Cụ Đường mất đã hơn một năm. Cụ là người
thầy, người cha và về sau cũng là người bạn văn
chương của ông, người đã tạo điều kiện cho ông
phát triển về trí lực, về tương lai.
Dựng vợ gả chồng cho con cái, tạo điều kiện cho
con rể mình tiếp tục việc bút nghiên, ông bà cụ
Đường chẳng nghĩ gì đến công danh, phú quý.
Nhưng ở vào cái buổi bấy giờ, khoa bảng được coi là
thước đo để đánh giá sự học hành, thì bổn phận
người đi học vẫn phải trả nợ áo cơm đèn sách bằng
sự đỗ đạt. Điều đó chỉ thôi thúc ông Sắc mạnh hơn
từ sau khi cụ Đường nhắm mắt.
Về phần bà Loan, đấu gạo chéo khăn, cháo rau
nuôi chồng ăn học, bà vẫn nghĩ sẽ có một ngày như
hôm nay. Bà tin vào người bạn đời của mình và rất
an tâm về điều ấy. Và bà cũng chỉ dừng những suy
nghĩ của mình lại ở đó mà thôi, mong sao cây khoai
mình trồng, chẽn lúa mình cấy được ra hoa kết nụ.
Trong cái ấm no chung của xóm thôn, gia đình
mình cũng có bận mai, bận chiều để chồng được tiếp
tục sách đèn.
Bé Cung vui mừng chạy trước. Bà Loan nhìn
theo, cười và bảo con gái:
26
- Thanh, đi kịp lên mà kèm em cho cẩn thận,
kẻo em ngã đấy con!
Khi đã đi lên ngang hàng với em, chị muốn
xách giùm ống gáo dừa đựng đôi cá rô thia nhưng
cậu em không cho. Cậu cố bước thật nhanh và thật
chắc như để mẹ và chị tin là mình có đủ sức để đi
vững vàng.
Mới đó mà đã hơn một năm. Việc thi đỗ của
người cha tuy không làm thay đổi cuộc sống vật
chất của gia đình, nhưng nó đã tạo cho cậu Cung
những thuận lợi mới. Cậu được đi Huế. Và giờ đây,
trước mắt cậu bé năm tuổi ham hiểu biết, những
cảnh trí khác nhau của non xanh nước biếc liên tiếp
diễn ra.
Con đường 49 là đường hàng tỉnh đón cậu từ
cổng làng. Nó cũng nhỏ hẹp thôi, nhưng các con
đường trong thôn thật chẳng có chỗ nào rộng bằng.
Đường về xuôi dẫn cậu qua nhiều chặng. Chợ Sáo
nhiều bánh đúc. Chợ Phủ nhiều bánh chưng và chợ
Đước nửa quê nửa tỉnh. Vinh, thành phố quê hương
nổi rõ nhà thờ đạo, đồn binh, những người Pháp
mặc quần soọc, mình đầy lông lá, xách gậy hèo, kéo
theo những con chó to như những con bê và những
khu đất bị san phẳng chuẩn bị xây nhà ga, mở nhà
máy. Sự ngang nhiên của bọn thực dân da trắng đã
làm đảo lộn nền nếp của một thành phố đang sống
yên hàn.
Đường xuyên thành phố đổ ra bờ sông.
27
Đò ra đến giữa dòng, cậu bé nói:
- Ra đây thấy sông rộng hơn nhiều mẹ ạ.
Bà mẹ nhìn lại mặt sông rồi trả lời:
- Phải rồi, lên non mới biết non cao, vượt sông
mới thấy sông rộng đó con.
Màu xanh, cứ thế kéo dài qua các làng Uy Viễn,
Tiên Điền1 rồi cứ theo xứ thơ ấy, màu xanh chảy ra
cửa Hội hòa với biển Đông.
Đò đổ đoàn người lên bờ. Họ
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
TRẦN THANH LÂM
Phó Chủ tịch Hội đồng
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM MINH TUẤN
Thành viên
NGUYỄN HO I ANH
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC T I
TỐNG VĂN THANH
2
LỜI NH
XUẤT BẢN
C
uốn sách Bác Hồ của chúng em tập hợp những câu
chuyện kể cũng đồng thời là những kỷ niệm sâu sắc
của những chứng nhân từng được gặp gỡ, tiếp xúc với
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày Người là cậu bé
Nguyễn Sinh Cung có tuổi thơ gắn bó với làng Chùa quê mẹ
và làng Sen quê cha, là cậu thiếu niên Nguyễn Sinh Cung
(Côn) trong những ngày theo cha đến sống và học tập ở
Huế, là thầy giáo trẻ Nguyễn Tất Thành khi dạy học ở
trường Dục Thanh tỉnh Bình Thuận hay người công nhân
hòa mình vào cuộc sống lao động ở thành phố Sài Gòn và
khi Người đã trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Qua các câu chuyện kể, chân dung Chủ tịch
Hồ Chí Minh được khắc họa ở một khía cạnh vô cùng cao
đẹp. Đó là một vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại nhưng rất gần
gũi, luôn đồng cảm và chan hòa, có tình thương yêu ấm
áp, bao la dành cho nhân loại nói chung và đặc biệt là với
lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng nói riêng.
Những câu chuyện đầy xúc động trong cuốn sách giúp
các đối tượng bạn đọc là các em thiếu niên, nhi đồng thêm
yêu mến, cảm phục phẩm chất, đạo đức của Bác cũng như
thêm hiểu và trân trọng tình cảm của Bác dành cho
các thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước,
5
lớp người luôn được Người dành cho trọn vẹn tình cảm,
niềm tin và hy vọng.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2022
NH XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
Phần I*
QUÊ HƯƠNG NGHĨA NẶNG TÌNH SÂU
___________
* Nội dung phần I trích trong cuốn sách Chuyện kể từ
làng Sen, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 2021.
7
8
GIỌT NƯỚC ĐẦU NGUỒN
C
ụ Hoàng Thế Kỳ1 dẫn chúng tôi vào khu vườn
xưa mà chỉ:
- Trước có cây thị ở đây, người ta mới chặt đi.
Cụ lấy đầu gậy gạt lớp cỏ và lá cây để dò chừng.
Đầu gậy đụng phải một vật cưng cứng. Cụ hỏi:
- Nó đây rồi phải không anh? Họ nhà thị, giống
cây vườn thế mà chắc, làm gỗ ít mối mọt và lấp dưới
đất khó mục ải.
Chúng tôi cùng ngồi xuống moi hết lớp mùn để
gốc cây xưa nổi lên. Cụ già làng Chùa với tấm áo
lụa đỏ, dang hai cánh tay ôm choàng lấy gốc cây
mới phát hiện được như đang vỗ về thăm hỏi.
Đoạn, cụ đứng lên, nhằm thẳng vào ngôi nhà cụ
Hoàng Đường2.
- Nhà bố mẹ cậu Cung xưa ở cùng hướng với nhà
ông bà ngoại như thế này. Nhà ba gian, thật nhỏ
gọn, bình dị.
___________
1. Thường gọi là cụ Nam (1893-1971). Cha cụ Nam với
bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ cùng một ông cố.
2. Còn có tên là Hoàng Xuân Cát, sau gọi là cụ Tú An
(1837-1893). Một vài tài liệu khác ghi ông sinh năm 1835.
9
Cụ lấy bước chân làm chừng. Tôi theo sau và
tự nghĩ là phải giữ thật yên lặng để chiêm ngưỡng
một cuộc sống đang được hình dung lại dần dần.
Cụ gật đầu:
- Phải rồi, gian buồng nằm ở khoảng này. Cậu
Cung đã lọt lòng mẹ ở đây.
Chúng tôi cùng lùi lại mấy bước. Tôi tưởng
như mình đang được ngồi trên bộ phản gỗ cạnh
chiếc án thư, trên có mấy chồng sách và một đĩa
đèn dầu hạt.
Sát bên là chiếc khung cửi còn mắc những
đường tơ óng vàng.
Cụ Kỳ khép cổ áo. Từ cái chớm lạnh cuối thu,
lòng cụ như nhớ về một ngày mùa hạ sáng trong:
- Thế mà đã ngót tám mươi năm rồi. Ai cũng
muốn hình dung lại xem bà con xóm giềng thuở đó
đã đón buổi chào đời của cậu Cung như thế nào.
Bình nhật1, cụ Kía là trưởng chi họ này vẫn thường
kể với chúng tôi. Buổi ấy, căn nhà bé nhỏ này càng
trở nên chật chội.
Bà con thôn xóm láng giềng ai cũng vồi vội sang
thăm. Những bó chè xanh, những chẽn cau tươi,
những liền trầu quế được các bà, các chị mang lại
để cùng chia niềm vui mới. Nhiều bà trở về, chưa
nhai giập miếng trầu đã lại tất tả chạy sang. Các
bà nhớ cái không khí ở đây - nơi có mùi bồ kết, mùi
___________
1. Ngày bình thường lúc còn sống.
10
vỏ bưởi nướng thơm thơm, đằm đặm, nơi gương mặt
của mọi người rạng rỡ thêm lên. Các bà ngồi quanh
những cơi trầu tươi, những ấm nước mới mà kể
chuyện khoai lúa, lợn gà, chuyện con chơi, con học
và mọi người càng thấy thương mến nhau hơn.
Các bác đàn ông thì cởi mở ở những câu chuyện
khác. Nhiều bác mới ở ngoài đồng về, chân còn ngấn
bùn ruộng. Đối với họ, điều mừng thường giấu kín
trong lòng. Để giữ được điều mừng, họ nghĩ đến
những điều lo. Đó là sưu thuế, phu đài, tạp dịch sắp
tới và hiện tượng đói kém của những mùa qua. Ai
cũng thấy cuộc sống có nhiều mối lo mà riêng mình
không lo nổi.
Bà Hoàng Thị Loan1 thì tỏ rõ nỗi sung sướng
sau kỳ sinh nở mẹ tròn con vuông. Tuy dáng bộ
còn mệt mỏi nhưng đôi môi bà tươi đỏ và cặp mắt
thật minh mẫn. Bà chào đón mọi người và mải
nhìn người con nhỏ lim dim ngủ, lòng đầy thư thái,
tin yêu.
Căn nhà ông Nguyễn Sinh Sắc2 không đủ chỗ
ngồi. Một số người có ít chữ nghĩa, đi sang nhà ông
ngoại, ở đó người ta đang bàn chuyện làm giấy khai
sinh cho cậu bé.
___________
1. Hoàng Thị Loan (1868-1901), con gái đầu của cụ
Hoàng Đường.
2. Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929), khi vào thi Hội đổi là
Nguyễn Sinh Huy, đậu Cử nhân khoa Giáp Ngọ (1894), đậu
Phó bảng khoa Tân Sửu (1901), lấy hiệu là Trí Hiếu, Trí Đễ.
11
- Nên đề năm tháng như thế nào? - Cụ Kỳ nói
như giải thích cho riêng tôi. Năm tháng Việt Nam
hồi đó gắn liền với niên hiệu của từng ông vua. Mà
với triều Nguyễn cho đến lúc này người ta chỉ biết
có vua Hàm Nghi. Họ chỉ thừa nhận vị vua đã
đứng về phía nhân dân mà kháng chiến ấy. Có ý
kiến đề nghị thật tích cực: “Ta nên lấy niên hiệu
của ông vua không theo giặc: “Hàm Nghi lục
niên”...1 cứ thế mà khai”. Các bác trai ngồi nghe,
sự đồng tình biểu lộ trên nét mặt. Họ nghĩ đến
những ngày đầu dựng cờ Cần Vương cứu nước. Cụ
Hoàng Đường thận trọng ngồi chờ kết quả cuộc
bàn bạc chung. Một ý kiến khác bày tỏ cái ý kín
đáo hơn: “Bề ngoài người ta muốn ghi sao thì mặc.
Còn ta, ta cứ ghi vào gia phả: năm Canh Dần
tháng Tư mùng một2 thế là được”.
Ông Sắc nhận ra là phải lẽ, sao lại bắt con nhỏ
mình phải đội cái niên hiệu nặng nề của người khác
trên cột tháng năm sinh.
Ở vùng quê này, sự thay “trật tự”, phá “kỷ
cương” cứ được bàn đến một cách hồn nhiên như
vậy đó.
___________
1. Triều vua Hàm Nghi năm thứ sáu. Vua Hàm Nghi
lên ngôi năm 1884, vì phát động phong trào yêu nước chống
Pháp nên ông bị thực dân Pháp bắt và đày sang Angiêri.
2. Tức ngày 19 tháng 5 năm 1890.
12
Cụ Kỳ nhìn xa xăm, dưới cặp lông mày bạc
trắng, đôi mắt cụ ánh lên một niềm vui:
- Còn cậu Cung, lúc này người ta kể là cậu cứ
nằm yên mà ngủ. Giấc ngủ của trẻ sơ sinh thật đẹp
lạ kỳ. Nhưng cuộc sống của bà con còn lam lũ, đói
nghèo, làm thế nào để đáp ứng những đòi hỏi của
các bác đàn ông, để “mặn” thêm câu chuyện gia
đình của các bà, các chị, để xóa đi những lệ làng,
phép nước rất đỗi phiền hà. Bà mẹ trẻ cũng mang
trong mình những suy nghĩ ấy. Bà lại nhìn con.
Khuôn mặt của cậu bé mới chào đời sáng đẹp như
một vầng trăng.
Lời cụ Kía, bà con mình vẫn nhớ. Bữa đó trời
trong, nắng đẹp. Gió nồm quạt ánh nắng sung sức
của tiết lập hạ vào căn buồng cậu nằm. Ngoài vườn
ông ngoại, tiếng chim chuyền cành nghe rộn rã. Các
bà, các chị tới, ai cũng đến bên cạnh nhìn thăm, nở
những nụ cười vô cùng đôn hậu.
- Ấy, cậu Nguyễn Sinh Cung ra đời giữa một
vùng quê vất vả, khổ nghèo nhưng hiền hòa, trong
sáng như vậy đó anh.
Càng vào đoạn kết, lời kể của cụ già làng Chùa
càng say sưa, tha thiết.
Tôi lại theo cụ đi trở lại trên những nẻo đường
bờ ao nước bạc soi bóng những cành mít, những đụn
rơm của vùng quê ngoại. Tôi chẳng biết tự bao giờ,
không riêng bà con ở đây mà cả khách đến thăm,
xuống làng Chùa thì cứ bảo về quê ngoại, lên làng
13
Sen thì cứ bảo về quê nội. Những tiếng gọi rất riêng
mà cũng rất chung. Tôi nghe rõ tiếng hát của các
em thiếu nhi. Các em đang chuẩn bị cho tết Trung
thu, một Trung thu đầu tiên vắng Bác. Hòa theo
tiếng trống ếch dập dình là những tiếng hát quen
thuộc: Người “xuất hiện trong ánh sao, xuất hiện đi
cứu dân khổ đau”.
Đô Lương, Nghệ An, 1970
14
TIẾNG RU
C
hiếc thoi cần mẫn vẫn nhè nhẹ thoăn thoắt. Mỗi
lần thoi đi qua về lại, con chim gỗ trên khung
cửi lại gật gù như mừng vì có thêm một sợi tơ vừa
được kết vào tấm lụa. Khoảng vàng mịn màng trước
mắt cứ dôi dài ra để rồi được cuộn vào, cuộn vào mãi
như một niềm vui thầm kín không dứt. Bà Loan
nhìn tấm lụa như ngó vào một mặt gương, trong đó
bản thân cũng được hồng hào lên do thành quả của
đôi bàn tay mình kết dệt. Niềm vui ấy tăng lên gấp
bội khi nghe tiếng gọi, giọng non trong:
- “Bể Đại Hải đang đầy” rồi câu gì nữa hả mẹ?
Bà nhìn con mỉm cười sung sướng: “Ồ, con của
mẹ ngoan quá!”. Đôi cánh tay thạo làm đồng và
chăm dệt cửi siết chặt con vào lòng nhưng rồi bà lại
vội buông ra. Bà không muốn cầm giữ bước chân
đang tung tăng và tiếng nói lảnh lót của con mình,
một con chim non mới bắt đầu bay nhảy. Cậu bé
vẫn ngóng đợi. Hiểu ý con, bà âu yếm:
- Để mẹ bày tiếp, con nhé!
Được nhắc lại rõ ràng rành rọt, cậu bé vừa đi
vừa nhẩm, cứ nhằm hướng nhà bà ngoại mà sang.
15
Bà mẹ đếm từng bước đi của con, lòng lâng lâng:
“Có vàng, vàng chẳng hay phô. Có con, con nói trầm
trồ mẹ nghe”.
Bà trở lại với công việc và dệt vừa được vài con
suốt, cậu bé lại đã đến gần. Lần này, cậu bắt mẹ
nhắc lại với mình suốt cả khúc ca. Khi cậu thiu thiu
ngủ thì với âm thanh dịu dàng của bà, khúc ca đã
là một lời ru:
Núi Trường Sơn còn thẳm
Bể Đại Hải đang đầy
Vua nước Nam đà theo Tây
Cho dân tình thậm khổ....
Không khí trong ngôi nhà lá bỗng trở nên
nghiêm trang bởi lời ru oán hờn và sâu thẳm ấy.
- Bé Cung của dì đâu? - Bà An bước vào. Câu
hỏi thay cho lời chào. Tuy hỏi vậy, bà An đã nhìn
thấy cậu bé nằm trong võng. Bà cười.
Bà Loan ngước lên:
- A! Dì đến. Ngủ ngoan chóng dậy mà chơi với
dì, con!
- Ấy, nhè nhẹ, để yên cho cháu ngáy! - Nói đoạn,
bà An ngồi xuống bên chị và mải về chuyện hát
phường vải đêm qua.
Hai chị em bà Loan thì từ thuở tóc chấm ngang
vai, sở trường của họ đã khéo bổ sung cho nhau. Cô
chị nhanh ý khéo đặt câu hát nhưng e lệ, kín tiếng.
Cô em thì mạnh dạn trong việc cất lời ca. Khi hai
16
người ngồi chuyện trò về ví dặm thì cứ như là tằm
nhả tơ.
Vùng làng Sen, làng Chùa có câu chuyện truyền
miệng:
Một bận, các cụ Tú San và Hoe Ba từ trên làng Bố
Ân cùng xuống hát. Các cụ cố giấu tiếng. Nhưng lạ,
ngồi chưa ấm chỗ, họ đã nghe giọng cô An:
Đằng xa em đã ngóng chừng
Nhìn trăng nhớ tán, trông rừng nhớ hoa.
Các cụ nhẩm: “Tán tức Tán Su là Tú San, Hoa là
Hoa Be tức Hoe Ba. Ấy chết, bà ấy xướng danh mình
rồi!”. Thế là hai cụ nảy người lên như giẫm phải lửa.
Trong nhà, các cô ra sức đấm vào lưng nhau mà cười.
Riêng bà Loan, bà cứ quay xa kéo sợi với vẻ thẹn
thùng bởi mọi người đang nhìn bà, mến phục.
Xóm làng vẫn mừng thầm vì các con của cụ
Đường thật sáng dạ. Trong gia đình siêng làm và
ham học ấy, sự trọng tài năng, quý nhân phẩm của
cha mẹ đã trở thành đức tính chung.
Về xã Hưng Thái (Hưng Nguyên)1, chúng tôi
được gặp cụ Trần Thị Tuất, con gái bà Hoàng Thị
An. Đang mải nói về cánh đồng cao sản, người xã
viên già bỗng chuyển sang lời sâu lắng:
- Dì Loan là chị ruột mẹ tôi. Sinh thời, mẹ tôi ít
nói đến mình mà thường nhắc đến dì. Chuyện về dì
được mẹ tôi kể thành những mẩu dễ nhớ.
___________
1. Nay thuộc thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên,
tỉnh Nghệ An.
17
Chuyện kể rằng, bữa ấy là buổi chiều mồng năm
Tết. Từ trên Thịnh Lạc đi về, ông ngoại tôi phải giữ
cho tấm áo kép khỏi bị gió thổi bạt đi và đã kéo
nghiêng chiếc nón gò găng xuống mà mưa phùn cứ
hắt vào mặt. Gió chiều mỗi lúc một mạnh. Đồng rất
vắng, thỉnh thoảng mới có đôi người đi tạt qua. Ai
cũng co ro dù đã mặc ấm hơn những ngày thường.
Về đến Dăm Quan, ông tôi gặp một con trâu từ
trong bụi rậm bước ra chặn ngang lối đi. Trên mình
trâu, một cậu con trai thu mình trong chiếc tơi lá,
tay cầm một cuốn sách. Thật là chuyện bất ngờ.
Ông tôi liền hỏi:
- Trời lạnh quá, sao cháu cho trâu về muộn thế?
Cậu bé chào đáp lại rồi cứ nhìn ông tôi mãi. Chắc
vì câu hỏi của ông tôi khá ân cần nên cái nhìn của cậu
cũng thật kính cẩn. Đoạn, cậu lại chăm chú nhìn vào
cuốn sách đã gần như nhàu nát.
Ông tôi bảo cậu:
- Thôi cháu, đi về kẻo tối.
- Dạ, cháu xin chào ông, - Cậu bé lễ phép đáp,
xong lại nhìn vào sách.
Khi đã bước xuống giữa cánh đồng Phú Đầm,
ông tôi vẫn ngoái lại nhìn. Con trâu cứ phe phẩy
đuôi hiền lành gặm cỏ và người chủ bé nhỏ của nó
lúc này mới lấy chân thúc vào mình trâu mà ra hiệu
bảo nó đi về.
Bà cụ Tuất nhai thêm một miếng trầu rồi tiếp:
- Nghe nói cũng giờ phút ấy ở làng Sen, ông
Nguyễn Sinh Thuyết, anh của cậu bé chờ mãi không
18
được nên đã đánh đường đi tìm em. Bà Thuyết cũng
phải đậy cỗ bàn lại rồi ra đường đứng đợi.
Đã lâu năm trong nghề dạy học, ông tôi ít gặp
những học trò chăm chỉ như vậy. Nghe thuật
chuyện, bà tôi rất mến cậu bé chăn trâu nọ, trước
hết vì đó là người ham học. Bà tôi cũng là con một
nhà Nho. Cố ngoại tôi đã lận đận nhiều ở trường
thi. Bà tôi ra đời khi ông cụ đậu tú tài khóa thứ hai
nên gia đình đặt cho là cô Kép, Nguyễn Thị Kép.
Hai nhà kết nghĩa thông gia với nhau cũng vì nghĩa
văn chương, tình bè bạn.
Khi biết cậu mồ côi cả cha lẫn mẹ thì bà càng
thương. Cho đến khi ông tôi xin với ông Thuyết để đem
cậu về nuôi thì bà tôi coi cậu như con của mình.
Người con trai làng Sen ngồi trên mình trâu mà
học bài ấy chính là dượng Nguyễn Sinh Sắc của
chúng tôi.
Cũng theo các cụ làng Chùa kể lại, nhờ sự cố
công kèm cặp của cụ Đường, việc học của cậu
Nguyễn Sinh Sắc ngày càng tấn tới. Về sau, cụ gửi
cậu xuống học với nhà danh nho yêu nước Nguyễn
Thức Tự1. Trường học của cụ nổi tiếng ở Nghệ Tĩnh.
Rất nhiều nhà khoa bảng có tiếng tăm ở vùng này
___________
1. Nguyễn Thức Tự (1841-1923) hiệu Đông Khê, quê
làng Đông Chữ, xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc. Nhân
dân tôn kính gọi là cụ Sơn vì năm 1880, cụ được bổ làm Sơn
phòng Chánh sứ Hà Tĩnh.
19
vốn theo học ở đây. Thời gian được xuống học dưới
đó là dịp cậu sinh đồ Nguyễn Sinh Sắc có điều kiện
tốt nhất để phát triển trí lực. Không lâu sau, cậu
trở thành người bạn văn chương của cụ Hoàng
Đường. Có lúc cậu đã thay cụ Đường giảng dạy cho
lớp học trò ở trong nhà. Và chẳng biết tự bao giờ,
người con trai hiền hậu, giỏi giang ấy đã được cô
con gái đầu lòng của cụ để ý.
Bà cụ Tuất sửa lại vành khăn, tiếp tục câu
chuyện:
- Dì Loan tính người chất phác và đoan trang.
Mẹ tôi thường nói, việc làm của dì thì chu đáo, điều
nghĩ của dì thì đôn hậu, nhân từ. Dì biết nhiều mà
nói ít. Lúc dì đến tuổi, con trai của nhiều nhà gia
thế đến ngấp nghé đưa tin. Khi mà mục đích của
họ không đạt được thì cũng có kẻ gièm pha. Trước
những lời ong tiếng ve đó, dì tôi chỉ mỉm cười, tự
tin. Có người ngại cho cuộc sống thiếu vốn liếng của
dì sau này, dì cũng chỉ cười và nói: “Một bụng chữ
bằng nửa hũ vàng”.
Ông ngoại rất vui mừng trước cuộc tình duyên
của hai con. Bà ngoại cũng thế. Nhưng bà cũng có
phần băn khoăn sợ người ta cười là mình gả con
không được môn đăng hộ đối. Ông ngoại phải mượn
cớ về chơi Kẻ Sía1 để bàn bạc với cố tôi. Thế rồi nhân
___________
1. Quê bà ngoại Bác Hồ - bà Nguyễn Thị Kép, nay thuộc
xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
20
một buổi bà tôi về thăm nhà, cụ cố gợi chuyện bàn
giải mãi bà tôi mới thật thanh thoát.
Dì Loan biết bà tôi tạm thời có những lo nghĩ
như thế nhưng dì rất vững tâm. Dì biết những
băn khoăn đó cũng là lòng ân cần của mẹ lúc
mình sắp ra cửa nhà. Dì chỉ nói với bà tôi: “Có
lưng có vai thì có khoai có lúa”. Điều dì tìm thấy
và tin được ở dượng tôi là một tấm lòng, một ý chí.
Nghĩ như thế, dì tôi đã cùng người bạn đời bước
vào cuộc sống chung mà dì biết trước là sẽ không
ít gian khổ.
Thế là một gia đình mới được hình thành.
Sát cạnh cây thị mà cụ Hoàng Thế Kỳ đã chỉ,
một ngôi nhà nhỏ được dựng lên bằng gỗ tre lấy từ
trong vườn, có nứa đại ngàn làm vách, có mía bãi
sông làm mái, đủ che nắng mùa hạ, chắn gió mùa
đông. Cuộc sống đơn sơ đã không hạn những trang
sách mở và vẫn rộng đường thoi đưa. “Sáng trăng
trải chiếu hai hàng. Bên anh đọc sách, bên nàng
quay tơ”, cảnh ấy vẫn thường diễn ra sau những
buổi đồng áng nắng mưa.
Rời nhà riêng của mình mấy bước chân là đến
nhà ông ngoại. Một ấm chè xanh vừa chín, có cả
xóm giềng cùng uống. Một buồng cau đến thì dẻo
hạt, riêng nhà mình ăn không ngon. Buổi đầu hôm
sớm mai, khi tắt đèn tối lửa, xóm thôn cùng đùm
bọc, chở che.
Trong ngôi nhà bình dị ấy, năm 1884, vợ chồng
ông Sắc sinh chị Nguyễn Thị Thanh, một cô gái từ
21
bé đã nhanh nhẹn tháo vát; bốn năm sau sinh anh
Nguyễn Tất Đạt, người con trai có khối óc thông
minh hiếm thấy; và đến năm 1890, gia đình và quê
hương đất nước đón chào một người con mới, cậu
Nguyễn Sinh Cung.
Cứ mỗi lần một người cháu ra đời lại đem đến
cho gia đình họ Hoàng một niềm vui lớn.
Cụ Đường đến thăm cháu giữa lúc hai con đang
cùng trò chuyện. Nhìn khuôn mặt cậu Cung đang
lúc ngủ ngon, cụ thấy như tất cả nguồn vui được
thể hiện ở đây. Cứ mỗi lúc ngừng giảng bài, cụ lại
nghĩ đến khuôn mặt có đôi mắt trong sáng ấy, nên
thường giữa hai giờ học, cụ lại đến bên võng, bế
cháu lên hôn vào đôi má thơm thơm, bụ bẫm. Lần
này cụ cũng chỉ ghé thăm cháu một lúc. Cụ biết
giữa hai con còn có những điều cần nói. Cụ muốn
họ được tự nhiên.
Bà Loan đón nhận sự thăm hỏi của cha. Bà lại
cúi xuống nhìn người con nhỏ. Đôi tay bà chỉ dừng
lại mỗi khi hết một con suốt. Tuy nhiên, chiếc tao
võng vẫn đung đưa đều đều.
Khi cụ Đường dời gót, hai bà lại tiếp tục câu
chuyện về đêm phường vải. Bà An nói, trong đó như
có cả lời trách móc của chính mình:
- Người ta cứ hỏi sao lâu nay không thấy chị tới?
Bà Loan vẫn khiêm nhường dù là trò chuyện
với em:
22
- Thôi, chị bận việc nhà. Vả lại, chị cũng lớn tuổi
rồi, để dành việc đó cho các em.
Thực tình, đêm phường vải mà vắng những
người như bà Loan kể cũng thiệt thòi.
Bà Loan nhận rõ hơn trách nhiệm làm mẹ. Bà
mừng, em gái bà mới ngày nào cứ đòi chị bẻ cho
những câu hát ngắn thì nay đã tự đối đáp dí dỏm
lắm rồi.
23
ĐƯỜNG VÔ XỨ HUẾ
Đ
ã chuẩn bị đầy đủ cho việc trảy Kinh, ngày mai
bà Hoàng Thị Loan sẽ cùng hai con lên đường.
Sương đêm đã phủ kín những lũy, cây ngoài
vườn. Dưới ánh trăng, làn sương mỗi lúc một dày
đặc trông như cũng nặng trĩu suy tư.
Bà Loan thao thức mãi. Cụ Kép cũng thôi không
quạt cho cậu Cung nữa. Không phải cụ đã ngủ mà vì
khí trời đã dịu hẳn. Có chú ý nghe tiếng trở mình mới
biết cụ đang bồn chồn lo nghĩ vì nỗi đường xa dặm
thẳng đối với con cháu ngày mai. Cũng vì thế mà đêm
nay cụ sang ngủ cùng các cháu.
Bà Loan cố giữ thật yên lặng mặc dầu lòng bà
đang xao động dữ dội. Chốc chốc bà lại nhìn vào
khuôn mặt người con trai nhỏ. Ánh trăng rọi qua
khe cửa và những lỗ nhỏ li ti của vách nứa đủ cho
bà nhìn rõ khuôn mặt bầu bĩnh sáng sủa của cậu
con trai đang lúc ngủ say. Bà muốn ru thêm một
câu để góp vào giấc ngủ hiền hòa đó. Nhưng bà sực
nhớ, con trai mình đã lớn và sợ lời ru có thể gây ra
thành tiếng động, ảnh hưởng đến giấc ngủ của con.
Cụ Kép cũng suy nghĩ như vậy nhưng cụ không
24
thể để yên. Hết xoa đầu, cụ lại nắn cổ tay, cẳng
chân người cháu nhỏ. Mà không thao thức sao
được. Đối với tầm mắt người phụ nữ nông thôn xứ
Nghệ lúc bấy giờ, trảy Kinh thật là một việc quá
sức tưởng tượng.
Buổi sáng mùa thu bình dị ấy, đoàn người ra đi
khi cây vườn còn đẫm hơi sương. Lớn lên nơi đồng
quê và từ đồng quê cất bước, cậu Cung lon ton đi
giữa những ruộng lúa đã trổ đòng đòng, những
nương mía đang thì xanh tốt. Những lá cây nhọn
sắc khua mình trong gió sớm xôn xao.
Đã đến đầu bờ của mảnh ruộng nhà, năm trước ở
nơi này, bà Loan nhận được tin chồng mình thi đỗ.
Bà nhớ như in quang cảnh buổi ấy và tưởng mình
được nghe lại tiếng gọi của người con trai nhỏ:
- Anh Khiêm1 ơi, có cá rồi!
Cứ thế, bà hình dung lại tất cả.
Bữa ấy cậu Cung đã tự đắp ngăn rãnh nước bên
bờ ruộng mà tát cho đến cạn. Những con bọ nẹp
nước bò rào rào, những con cào cào nhảy tanh tách,
cả con chim bồng chanh mình xanh, mỏ đỏ sặc sỡ
nhún nhẩy trên cành rào tre đầu ruộng... tất cả,
cậu chỉ nhìn qua. Cậu chú ý đến những con cá.
Những con cá li ti, những con tép mềm nhũn tưởng
chết đến nơi nhưng rồi được cậu tháo nước vào lại
sống lại ngay. Cậu chỉ giữ hai con cá rô thia để đem
___________
1. Tên thường gọi của cậu Nguyễn Tất Đạt.
25
về thả vào chiếc bể cạn trước sân nhà bà ngoại. Khi
hai con cá đã được trở lại bơi trong chiếc gáo dừa
thì có tiếng gọi từ đầu bờ:
- Quan đậu rồi, sao bà Cử chưa về?
Thế là ông Sắc đã đậu Cử nhân. Đối với ông,
khoa thi này là khoa thi báo hiếu.
Cụ Đường mất đã hơn một năm. Cụ là người
thầy, người cha và về sau cũng là người bạn văn
chương của ông, người đã tạo điều kiện cho ông
phát triển về trí lực, về tương lai.
Dựng vợ gả chồng cho con cái, tạo điều kiện cho
con rể mình tiếp tục việc bút nghiên, ông bà cụ
Đường chẳng nghĩ gì đến công danh, phú quý.
Nhưng ở vào cái buổi bấy giờ, khoa bảng được coi là
thước đo để đánh giá sự học hành, thì bổn phận
người đi học vẫn phải trả nợ áo cơm đèn sách bằng
sự đỗ đạt. Điều đó chỉ thôi thúc ông Sắc mạnh hơn
từ sau khi cụ Đường nhắm mắt.
Về phần bà Loan, đấu gạo chéo khăn, cháo rau
nuôi chồng ăn học, bà vẫn nghĩ sẽ có một ngày như
hôm nay. Bà tin vào người bạn đời của mình và rất
an tâm về điều ấy. Và bà cũng chỉ dừng những suy
nghĩ của mình lại ở đó mà thôi, mong sao cây khoai
mình trồng, chẽn lúa mình cấy được ra hoa kết nụ.
Trong cái ấm no chung của xóm thôn, gia đình
mình cũng có bận mai, bận chiều để chồng được tiếp
tục sách đèn.
Bé Cung vui mừng chạy trước. Bà Loan nhìn
theo, cười và bảo con gái:
26
- Thanh, đi kịp lên mà kèm em cho cẩn thận,
kẻo em ngã đấy con!
Khi đã đi lên ngang hàng với em, chị muốn
xách giùm ống gáo dừa đựng đôi cá rô thia nhưng
cậu em không cho. Cậu cố bước thật nhanh và thật
chắc như để mẹ và chị tin là mình có đủ sức để đi
vững vàng.
Mới đó mà đã hơn một năm. Việc thi đỗ của
người cha tuy không làm thay đổi cuộc sống vật
chất của gia đình, nhưng nó đã tạo cho cậu Cung
những thuận lợi mới. Cậu được đi Huế. Và giờ đây,
trước mắt cậu bé năm tuổi ham hiểu biết, những
cảnh trí khác nhau của non xanh nước biếc liên tiếp
diễn ra.
Con đường 49 là đường hàng tỉnh đón cậu từ
cổng làng. Nó cũng nhỏ hẹp thôi, nhưng các con
đường trong thôn thật chẳng có chỗ nào rộng bằng.
Đường về xuôi dẫn cậu qua nhiều chặng. Chợ Sáo
nhiều bánh đúc. Chợ Phủ nhiều bánh chưng và chợ
Đước nửa quê nửa tỉnh. Vinh, thành phố quê hương
nổi rõ nhà thờ đạo, đồn binh, những người Pháp
mặc quần soọc, mình đầy lông lá, xách gậy hèo, kéo
theo những con chó to như những con bê và những
khu đất bị san phẳng chuẩn bị xây nhà ga, mở nhà
máy. Sự ngang nhiên của bọn thực dân da trắng đã
làm đảo lộn nền nếp của một thành phố đang sống
yên hàn.
Đường xuyên thành phố đổ ra bờ sông.
27
Đò ra đến giữa dòng, cậu bé nói:
- Ra đây thấy sông rộng hơn nhiều mẹ ạ.
Bà mẹ nhìn lại mặt sông rồi trả lời:
- Phải rồi, lên non mới biết non cao, vượt sông
mới thấy sông rộng đó con.
Màu xanh, cứ thế kéo dài qua các làng Uy Viễn,
Tiên Điền1 rồi cứ theo xứ thơ ấy, màu xanh chảy ra
cửa Hội hòa với biển Đông.
Đò đổ đoàn người lên bờ. Họ
 








Các ý kiến mới nhất